Chuyển đến nội dung chính

Xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng 24,2% nhờ cao su được giá và lượng xuất tăng

 

Bức tranh toàn cảnh 4 tháng đầu năm về xuất nhập khẩu hàng nông lâm thủy sản tiếp tục có nhiều điểm sáng. Trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước 32,07 tỷ USD, xuất khẩu đạt 17,15 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu đạt 14,93 tỷ USD, tăng 48,7%; xuất siêu đạt 2,2 tỷ USD, giảm 41,1% so với cùng kỳ năm trước...

Ảnh minh hoạ.
Ảnh minh hoạ.

Tháng 4/2021, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản ước đạt 4,45 tỷ USD, tăng 29,1% so với tháng 4/2020, giảm 13,3% so với tháng 3/2021; trong đó giá trị xuất khẩu nhóm nông sản chính ước đạt 1,53 tỷ USD, lâm sản chính ước đạt 1,29 tỷ USD, thủy sản đạt 650 triệu USD và chăn nuôi đạt 36 triệu USD.

Nhiều sản phẩm, nhóm sản phẩm có giá trị xuất khẩu tăng mạnh, như: cao su tăng 79,6% về khối lượng và tăng 111,6% về giá trị; chè tăng 1,6% về khối lượng và tăng 7,9% về giá trị; sắn tăng 65,3% về khối lượng và  23,9% về giá trị. Cùng với đó, nhóm hàng rau quả tăng 9,5%, sản phẩm chăn nuôi tăng 37,4%, cá tra tăng 2,8%, tôm tăng 5,5; sản phẩm gỗ tăng 71,4; mây, tre, cói thảm tăng 65,9%; quế tăng 28,1% về giá trị xuất khẩu.  

XUẤT KHẨU CAO SU TĂNG GẤP ĐÔI

Điểm sáng nhất trong bức tranh xuất khẩu nông lâm thủy sản trong 4 tháng đầu năm nay là mặt hàng cao su khi không những vượt tốc về khối lượng xuất khẩu mà còn được giá cao, nên giá trị kim ngạch đem về cao gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước. Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2021, chiếm thị phần lần lượt là 71,4%, 4,5% và 2,6%.

Phần lớn cao su thiên nhiên, cao su tổng hợp xuất khẩu của Việt Nam là xuất khẩu sang Trung Quốc. Năm 2020, tổng lượng xuất khẩu cao su thiên nhiên của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc ước đạt 1,36 triệu tấn, chiếm 77,9% tổng lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam.

Riêng quý 1/2021, Trung Quốc vẫn là thị trường Việt Nam xuất khẩu cao su nhiều nhất với khối lượng ước đạt 290.159 tấn, chiếm 71,4% tổng lượng xuất khẩu. Trong những tháng đầu năm nay, lượng lốp cao su xuất khẩu của Trung Quốc tăng 46,8% so với cùng kỳ năm 2020.  Sản xuất lốp xe khởi sắc tại Trung Quốc đã góp phần kích thích tăng trưởng xuất khẩu cao su của Việt Nam.

Dù vẫn lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc, nhưng trong những năm gần đây, ngành cao su Việt Nam đã và đang nỗ lực đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, hướng đến những thị trường “khó tính” hơn như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản. Xuất khẩu cao su của Việt Nam sang Mỹ trong hai tháng đầu năm 2021 đạt 8.450 tấn, trị giá 14,64 triệu USD, tăng 16,5% về lượng và tăng 37% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020.

Theo dự báo, trong ngắn hạn, thị trường cao su thiên nhiên tiếp tục nhận được sự hỗ trợ khi nguồn cung cao su thiên nhiên toàn cầu vẫn còn ở mức thấp, cùng nhiều yếu tố cơ bản thuận lợi giúp giá cao su phục hồi trở lại sau khi điều chỉnh ít nhất cho đến quý 2/2021, tuy nhiên vẫn phụ thuộc vào tình hình kiểm soát dịch bệnh Covid-19. Theo Tổ chức Nghiên cứu cao su quốc tế (IRSG), mức tăng tiêu thụ toàn cầu đối với cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp trong năm 2021 sẽ lần lượt là 7% và 7,2%.  

XUẤT  KHẨU  ĐỒ  GỖ  TĂNG  MẠNH 

Ngành hàng đồ gỗ trong 4 tháng đầu năm vẫn giữ được đà tăng trưởng thần tốc, thậm chí còn mạnh hơn những năm trước, tăng 71,4% về giá trị, đạt kim ngạch 5,81 tỷ USD. Các khách hàng lớn nhất của gỗ và lâm sản xuất khẩu của Việt Nam là Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU và Hàn Quốc, chiếm 90% tổng giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản của nước ta.

Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hầu như các doanh nghiệp gỗ đều có đơn hàng nhiều hơn hẳn so với thời điểm này năm ngoái. Do dịch bệnh Covid-19, người dân nhiều nước phải ở nhà làm việc qua mạng nên họ có nhu cầu cao về trang bị bàn, ghế, gường tủ mới... trong nhà nhằm tạo không gian đẹp hơn. Những yếu tố đó khiến cho nhu cầu đồ gỗ tăng cao ở nhiều thị trường.

Trong nhóm các ngành hàng nông sản, có hai mặt hàng dù giảm khối lượng nhưng nhờ giá trị xuất khẩu bình quân tăng nên vẫn tăng giá trị, gồm: gạo (giảm 10,8% khối lượng nhưng tăng 1,2% giá trị); hạt tiêu (giảm 21,3% nhưng tăng 10,3%). Tuy nhiên, với mặt hàng gạo, dù giá xuất khẩu bình quân đạt 547 USD/tấn, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2020, nhưng do khối lượng xuất khẩu suy giảm mạnh nên kim ngạch tăng không đáng kể.

Một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu giảm, như: cà phê (giảm 17,6% về khối lượng và giảm 11,6% giá trị); hạt điều (tăng về 8,6% khối lượng, giảm 7,8% giá trị).  Xuất khẩu cà phê trong tháng 4/2021 đạt khoảng 110.000 tấn, giảm 35,15% so với tháng 3/2021. Lũy kế 4 tháng, xuất khẩu đạt 563.000 tấn, giảm 17,54% so với cùng kỳ.

Hiện phần lớn các quán cà phê ở châu Âu và các quốc gia Trung Á đã đóng cửa, khiến nhu cầu tiêu dùng cà phê nhân xô giảm mạnh, trong khi đó những người dân ở nhà sẽ có xu hướng sử dụng cà phê hòa tan nhiều hơn. Vì vậy, rất nhiều quốc gia  châu Âu đang giảm nhập khẩu cà phê dạng thô, tăng nhập khẩu dạng đã chế biến.

Thực tế phần lớn doanh nghiệp xuất khẩu cà phê của nước ta chưa kịp thời nắm bắt xu thế này nên khả năng cạnh tranh của cà phê Việt Nam tại EU thấp hơn so với các đối thủ khác như Brazil. Đây cũng là nhận định của Hiệp hội Cà phê ca cao Việt Nam.

KIM  NGẠCH NHẬP KHẨU TĂNG TỚI GẦN 50%

Về nhập khẩu, 4 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản ước khoảng 14,93 tỷ USD, tăng 48,7% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, giá trị nhập khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 5,01 tỷ USD, tăng 121,9%; nhóm sản phẩm chăn nuôi khoảng 1,38 tỷ USD, tăng 36,9%; nhóm hàng thủy sản ước khoảng 679 triệu USD, tăng 22,1%; nhóm lâm sản chính khoảng 997,4 triệu USD, tăng 33,7%; nhóm đầu vào sản xuất khoảng 2,31 tỷ USD, tăng 40,1%. Cũng vì nhập khẩu tăng quá mạnh, tốc độ tăng cao gấp đôi so với tăng trưởng xuất khẩu, nên xuất siêu của toàn ngành trong 4 tháng chỉ còn khoảng 2,2 tỷ USD, giảm 41,1% so với cùng kỳ năm trước.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản và các cơ quan liên quan cần tiếp tục theo dõi, nắm bắt và tổng hợp thông tin, số liệu về giá cả, tình hình sản xuất và nguồn cung các mặt hàng nông sản tại các địa phương trong nước, đặc biệt là các địa phương bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch Covid-19. 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l