Chuyển đến nội dung chính

Đồng bào các dân tộc thiểu số Nà Tấu - Điện Biên giữ rừng nhờ chính sách chi trả DVMTR

 

(TN&MT) - Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng và lợi ích của rừng đối với người dân. Những năm qua, đồng bào các dân tộc thiểu số bản Phiêng Ban, xã Nà Tấu, TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã tích cực tham gia, thực hiện tốt công tác quản lý, khoanh nuôi, bảo vệ rừng; nhờ đó tỷ lệ che phủ rừng của xã đạt 57%.

Bản Phiêng Banxã Nà Tấu, TP. Điện Biên Phủ tỉnh Điện Biên là một trong những cộng đồng thôn bản thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng ở địa phương. 

Ông Lò Văn Thành, Trưởng bản, bản Phiêng Ban, xã Nà Tấu, TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, cho biết: Hiện nay, bản Phiêng Ban đang khoanh nuôi, bảo vệ khoảng 53ha diện tích rừng đã được các tổ chức xác nhận để làm cơ sở nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Toàn bộ diện tích rừng của bản được khoanh nuôi bảo vệ từ những năm 1994. Đến nay, rừng phát triển tốt có rất nhiều cây gỗ thân to thuộc một số loài như: Cây dẻ, cây vối thuốc, dổi và một số loài gỗ địa phương. 

Một góc rừng bản Phiêng Ban được khoanh nuôi và bảo vệ

Ông Thành cho biết thêm: Toàn bộ diện tích rừng kể trên được ví như tài sản của bản. Bản nhận khoán với Nhà nước trông coi và bảo vệ. Nên mọi hoạt động tuần tra, cắt cử nhau "gác rừng" đều được bản xây dựng thành quy ước, hương ước. Lẽ đó, nhiều năm qua, tại vị trí 53ha rừng của bản không xảy ra tình trạng người dân chặt phá rừng hoặc khai thác lâm sản trái phép. Điển hình như việc khai thác măng rừng để về làm thức ăn của gia đình cũng bị bản nghiêm cấm. 

Được biết, bản Phiêng Ban chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái sinh sống, bản có 111 hộ và 470 nhân khẩu; có đời sống khá giả, tỷ lệ hộ nghèo rất thấp. Mỗi năm bản Phiêng Ban được Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng Điện Biên chi trả tiền khoanh nuôi, bảo vệ rừng khoảng 20 - 22 triệu đồng/năm. Số tiền không lớn, những đó là nguồn khích lệ để bà con các dân tộc nâng cao ý thức khoanh, nuôi bảo vệ rừng.

Chính vì vậy, thời gian qua, đồng bào các dân tộc thiểu số ở Nà Tấu đều nhận thức rõ tác dụng, ý nghĩa của rừng mang lại đối với đời sống của chính người dân trong bản. Bởi vậy, mỗi người dân đều nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác quản lý, khoanh nuôi, bảo vệ rừng và công tác phòng, chống cháy rừng.

Nhờ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng mà nhiều cánh rừng ở Nà Tấu được bảo vệ tốt

Bên cạnh đó, cán bộ kiểm lâm địa bàn và bảo lâm xã Nà Tấu thường xuyên hướng dẫn bà con các dân tộc thực hiện tốt quy ước, hương ước bảo vệ rừng. Cùng với đó, là việc thành lập, duy trì các hoạt động của tổ xung kích bảo vệ và chữa cháy rừng ở các bản.

Ngoài ra, Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến nhân dân để mọi người nâng cao nhận thức của mình trong công tác bảo vệ rừng, không đốt nương vào những giờ cao điểm gió và khô hanh. Huy động nhân dân ở các bản thường xuyên tuần tra, xác định diện tích mốc giới tại các địa bàn giáp ranh với các xã để kịp thời phát hiện những vụ việc khai thác lâm sản. Hộ nào vi phạm sẽ bị xử lý theo quy ước, hương ước của bản.

Chia sẻ với chúng tôi về việc quản lý tài sản chung của bản, từ nguồn tiền được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng chi trả hàng năm. Trưởng bản Thành tâm sự: Chúng tôi họp bản và đã thống nhất xây dựng kế hoạch chi tiết để làm cơ sở, căn cứ chi cho công tác tuần tra bảo vệ rừng và một phần đóng góp để sửa chữa nâng cấp nhà văn hóa, mua sắm các trang thiết bị của bản. 

Để người dân nêu cao tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ, tự nguyện xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, chúng tôi thành lập tổ tự quản gồm trưởng bản, bí thư chi bộ, công an viên, các chi hội trưởng… mỗi tuần từ 1 đến 2 buổi thay nhau tuần tra, bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, người dân còn tham gia cùng cơ quan chức năng ra sức tuần tra, bảo vệ rừng nghiêm ngặt diện tích rừng do bản quản lý nên nhiều năm qua, bản Phiêng Ban không xảy ra tình trạng chặt phá, lấn chiếm rừng làm nương rẫy. 

Có thể thấy, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và những kinh nghiệm công việc cụ thể được bà con nhân dân các dân tộc bản Phiêng Ban triển khai tốt công tác bảo vệ rừng. Nên nhiều năm nay Phiêng Ban, xã Nà Tấu là một trong những 14 bản của xã Nà Tấu thực hiện tốt công tác khoanh nuôi, bảo vệ, quản lý rừng.  

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l