Chuyển đến nội dung chính

Huyện Cao Phong: Gìn giữ, bảo vệ “lá phổi xanh”

 (HBĐT) -Những năm gần đây, tư duy, nhận thức, trách nhiệm của người dân huyện Cao Phong đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng được cải thiện rõ rệt. Nhờ vậy, độ che phủ rừng của huyện tăng theo thời gian, năm 2019, tỷ lệ che phủ rừng của huyện đạt 35,99%, đến thời điểm hiện tại, độ che phủ rừng đạt 38,73%. 5 năm qua, trên địa bàn huyện không xảy ra cháy rừng, tình trạng xâm hại rừng giảm hẳn.



Hạt Kiểm lâm huyện Cao Phong phối hợp Ban CHQS, Công an huyện, UBND xã Hợp Phong tổ chức phát dọn đường băng trắng cản lửa tại xã Hợp Phong tháng 3/2021.

 Huyện Cao Phong có tổng diện tích tự nhiên 25.600,25 ha, đất quy hoạch cho lâm nghiệp 13.473,87 ha. Trong đó, diện tích đất có rừng 9.914,99 ha, đất chưa có rừng 3.558,88 ha, gồm: đất rừng phòng hộ 4.612,81 ha, đất rừng sản xuất 5.068,03 ha. Diện tích rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp 234,15 ha.

 Trước năm 2016, trên địa bàn huyện, việc trồng cam phát triển mạnh. Cam được trồng trên đất đồi, thậm chí cả đất rừng nên ảnh hưởng nghiêm trọng tới phát triển lâm nghiệp của huyện. Trước thực trạng đó, cấp ủy, chính quyền huyện nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp để nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đối với việc bảo vệ, phát triển rừng, trong đó chú trọng tới công tác tuyên truyền.  

  Đồng chí Nguyễn Đức Thắng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện cho biết: Được sự quan tâm của Huyện ủy, UBND huyện cùng với sự phối hợp của các xã, thị trấn, Hạt Kiểm lâm huyện đã xây dựng bộ tài liệu tuyên truyền trong lĩnh vực lâm nghiệp để triển khai đến tất cả các địa phương. Thông qua các cuộc họp thôn, xóm, lực lượng kiểm lâm địa bàn phổ biến trực tiếp, cụ thể các quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng. Hạt làm bảng biển tuyên truyền, biển cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn. Tuyên truyền lưu động để người dân hiểu rõ ý nghĩa, giá trị, hiệu quả của việc bảo vệ và trồng rừng. Đội ngũ già làng, trưởng bản, người có uy tín tích cực tham gia bảo vệ rừng. Chính nhờ vào sức dân mà những năm gần đây, diện tích rừng của huyện được bảo vệ tốt, tình trạng phá rừng làm nương rẫy, xâm lấn rừng được kiểm soát, ngăn chặn; việc huy động lực lượng tham gia vào công tác phòng cháy chữa cháy rừng, trồng rừng luôn được Nhân dân ủng hộ, nhiệt tình tham gia.

  Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm địa bàn chủ động bám sát cơ sở, phối hợp chặt chẽ với công an, quân sự các xã, thị trấn thường xuyên kiểm tra cửa lối vào rừng, vùng giáp ranh, vùng trọng điểm để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý những hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng. Đơn vị duy trì bố trí quân số thường trực để theo dõi thông tin về dự báo, cảnh báo cháy rừng trên trang mạng của Chi cục Kiểm lâm Hòa Bình và hệ thống theo dõi cháy rừng trực tuyến trên website của Cục Kiểm lâm; phát hiện sớm các đám cháy, xác định thông tin, địa điểm đám cháy, từ đó chủ động trong việc triển khai kịp thời các phương án chữa cháy, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại khi có cháy rừng xảy ra. Hàng năm, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp Ban CHQS, Công an huyện, UBND xã Hợp Phong tổ chức phát dọn 2 km đường băng trắng cản lửa tại đồi Mô Hố, đồi Piệng, thuộc xóm Nhõi I, xã Hợp Phong. Việc dọn vệ sinh rừng sau khi khai thác, sử dụng lửa trong việc đốt dọn nương rẫy, xử lý thực bì được người dân thực hiện đúng quy trình kỹ thuật nên 5 năm liên tiếp huyện không xảy ra cháy rừng.

 Nhân dân trong huyện tích cực trồng cây xanh tại khu dân cư và trồng rừng sản xuất. Năm 2020, toàn huyện trồng được 319,3 ha rừng (đạt 212,9% kế hoạch năm). Hưởng ứng Đề án trồng 1 tỷ cây xanh của Thủ tướng Chính phủ, huyện thực hiện rà soát quy hoạch, xây dựng kế hoạch sử dụng đất, xác định quỹ đất để trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất; đất quy hoạch trồng cây xanh đô thị, đất phát triển trồng cây phân tán vùng nông thôn để xây dựng kế hoạch trồng rừng, trồng cây phân tán cụ thể hàng năm và giai đoạn 2021 - 2025.

Thu Thủy

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l