Chuyển đến nội dung chính

Gia Lai: 20 năm để mất hàng trăm ha rừng, ai chịu trách nhiệm?

 

Mặc dù không có chức năng, nhiều lần làm tờ trình nhưng không được Bộ Tư lệnh QK5 và Bộ Quốc phòng chấp thuận vậy mà Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai vẫn được UBND tỉnh giao quản lý, bảo vệ rừng.

Chính quyết định sai trái này đã để mất hàng trăm ha rừng trồng (chưa kể rừng tự nhiên), quả là đáng kinh ngạc!

Dự án được giao trái luật

Là đơn vị quốc phòng, có nhiệm vụ giữ gìn an ninh – chính trị của một tỉnh biên giới, không hề có chuyên môn về lâm nghiệp nhưng vì sao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai vẫn được giao quản lý, bảo vệ hơn 11.000 ha rừng chính là điều mà dư luận vẫn đang rất quan tâm. Mặc dù theo báo cáo gần đây nhất của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, (báo cáo số 963/BC-BCH ngày 17/02/2020) thì khi xin phép thành lập lực lượng Ban quản lý rừng đơn vị không được Bộ tư lệnh Quân khu 5 chấp thuận, Bộ Quốc phòng cũng không giao nhiệm vụ. Tuy nhiên, dự án 661 Tây Bắc Đăk Đoa (sau đây gọi tắt là Dự án 661) trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai vẫn được thành lập. Sau 20 năm, chỉ tính riêng phần thực hiện dự án trồng rừng (chưa tính diện tích rừng tự nhiên), Dự án 661 đã nhận rất nhiều tiền đầu tư từ nhà nước để thực hiện. Cho đến nay, qua kiểm tra của các cơ quan chức năng, rừng trồng đã sụt giảm hàng trăm ha (nói đúng hơn là mất trắng), thiệt hại ngân sách hàng chục tỷ đồng nhưng chưa có ai phải chịu trách nhiệm (!).

Theo Quyết định số 740/QĐ-CT của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai ngày 23/05/2001, Dự án 661 được phê duyệt 11.046,5 ha đất tự nhiên. Trong đó đất có rừng tự nhiên là 3.383,90 ha; 210 ha rừng trồng; 3.292,3 ha đất không có rừng và 4.160,3 ha đất ngoài quy hoạch lâm nghiệp. Dự án 661 sẽ kết thúc nhiệm vụ vào năm 2010. Tuy nhiên, chưa hiểu vì lý do gì, Dự án 661 vẫn tiếp tục quản lý bảo vệ rừng thêm 9 năm nữa (năm 2019) (!)

Số liệu về diện tích rừng trồng sụt giảm lớn chỉ bị phát hiện khi các cơ quan chức năng có số liệu kiểm kê độc lập về thực trạng để Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai bàn giao toàn bộ dự án về cho địa phương quản lý. Theo báo cáo giải trình của Ban quản lý Dự án 661, chỉ tính riêng phần diện tích rừng trồng trong giai đoạn 2001-2010 tăng 459,60 ha; giai đoạn 2011-2014 tăng 268,56 ha; giai đoạn 2015-2017 giảm 414,74 ha; giai đoạn 2018-2019 giảm 71,02ha…Bên cạnh đó, rừng trồng theo ngân sách giảm 193,93 ha; đo vẽ hoàn công thiếu hụt 32,5 ha; bị cháy 55,8ha, người dân phá rừng làm nương rẫy 105,63ha.

Gian dối số liệu khi thống kê để trục lợi

Đáng chú ý là trong giai đoạn 2011-2014 đơn vị này đã thống kê 462,49 ha bời lời, cao su của người dân vào diện tích rừng trồng tăng. Như vậy, để lấp liếp cho sự thiếu hụt diện tích rừng trồng, Ban Quản lý Dự án 661 đã tính “ăn gian” diện tích cao su bời lời của người dân vào diện tích trồng rừng để rút tiền ngân sách. Trên thực tế, diện tích rừng trong các giai đoạn này đã bị sụt giảm đáng kể.

Sau khi Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai có Nghị quyết 100/NQ-HĐND ngày 07/12/2017 thông qua kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030 tỉnh Gia Lai thì đơn vị này đã “lấp liếm” hợp thức hóa bằng cách đưa 414,74 ha rừng cao su và bời lời của dân ra khỏi diện tích rừng trồng. Như vậy dự án 661 chỉ còn 523,42 ha rừng trồng.

Trong khi đó, rừng tự nhiên và rừng trồng của đơn vị này trong giai đoạn 2011 đến 2019 đều giảm mạnh về diện tích. Theo báo cáo giải trình bổ sung số 2059/BC-BCH của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai ngày 06/4/2020 thì tất cả nguyên nhân được cho là do người dân phá rừng làm nương rẫy, thống kê không đầy đủ và sai số khi đo đạc (!)

Đáng chú ý, trong các giai đoạn tăng đột biến của rừng trồng thì đều do “thống kê cao su, bời lời” của dân vào diện tích. Còn lại đa số là diện tích rừng trồng giảm. Tuy nhiên, đến thời điểm bàn giao về cho các Ban quản lý rừng phòng hộ thì giai đoạn 2010 đến 2019 số liệu thống kê cho thấy, rừng trồng của Dự án 661 trong giai đoạn này bị giảm 217,2ha (giai đoạn 2011 - 2014: tăng 268,56ha; 2015-2017: giảm 414,74ha; 2018-2019: giảm 71,02ha.)

Ai là người chịu trách nhiệm?

Theo số liệu mà chúng tôi có, chỉ tính riêng trong giai đoạn 2011 đến 2019 Dự án 661 đã được đầu tư 8 tỷ 594 triệu đồng để trồng rừng (giai đoạn từ 2001- 2010 chưa có số liệu cụ thể). Đây là số tiền không nhỏ so với ngân sách eo hẹp của tỉnh. Tuy nhiên, để có con số thống kê diện tích rừng trồng tăng, trong báo cáo giải trình 963 của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai và báo cáo giải trình bổ sung số 2059 của đơn vị này đều nhấn mạnh rằng, họ đã thống kê diện tích cao su và bời lời của dân vào diện tích rừng trồng của Dự án (!). Thực tế tại bảng biểu số 5 (kèm theo báo cáo số 963) giải trình về sử dụng nguồn vốn ngân sách và nguồn vốn dịch vụ môi trường rừng cho thấy chưa có mục trồng rừng. Vì vậy có thể nói rằng, Ban dự án 661 đã cố tình thống kê tài sản của người dân vào diện tích rừng trồng của đơn vị để trục lợi ngân sách. Đến năm 2017, khi Nghị quyết 100 của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai ra đời thì diện tích rừng trồng của Dự án 661 được xác định là 523,42ha.

Tuy nhiên, năm 2021, khi con số thực tế bàn giao cụ thể về cho 3 đơn vị quản lý bảo vệ rừng (thuộc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai) đã thể hiện như sau: Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ quản lý 55,04 ha rừng trồng; Ban quản lý rừng phòng hộ Đăk Đoa quản lý 36,58 ha rừng trồng; Ban quản lý rừng phòng hộ Đông Bắc Chư Păh quản lý 84,29 ha rừng trồng (tổng cộng cả 3 đơn vị nhận thực tế là 175,91 ha). Như vậy so với rà soát 3 loại rừng theo Nghị quyết 100/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai năm 2017 thì con số rừng trồng mà Dự án 661 đã làm mất đi 347,51ha.

Theo ông V – Ban QLRPH A (xin được giấu tên) thì: để trồng 1 héc ta rừng từ năm đầu đến năm thứ 3 thuộc giai đoạn 2011 đến 2019 dao động từ 40 triệu đồng đến 60 triệu đồng (con số này phụ thuộc vào địa hình, địa lý). Như vậy nếu mất đi 347,51 ha rừng trồng có nghĩa là Dự án 661 đã làm mất đi hàng chục tỷ đồng tiền ngân sách Nhà nước nhưng chưa có một ai đứng ra nhận trách nhiệm về vấn đề này, sự việc đang như “huề cả làng”(!). Trong khi đó, tháng 9/2020, cũng chỉ vì để mất hàng trăm ha rừng trồng mà 02 Giám đốc BQL RPH Ia Grai, tỉnh Gia Lai (trong thời gian 20 năm với 02 đời giám đốc) đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can!.

Trong 20 năm, Dự án 661 đã sử dụng hàng chục tỷ đồng tiền ngân sách để bảo vệ, quản lý và trồng rừng, nhưng thực tế đã làm mất hàng trăm ha rừng trồng là điều không thể chấp nhận được. Việc bàn giao rừng từ Dự án 661 về cho các ban quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai vừa qua có phải là để hợp thức hóa cho sai phạm hay không? Dư luận đang cần một câu trả lời!

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l