Chuyển đến nội dung chính

Chính sách chi trả DVMTR ở Cao Bằng: Góp phần bảo vệ môi trường, người dân được hưởng lợi

 (TN&MT) - Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), những năm qua, tỉnh Cao Bằng đã triển khai đồng bộ các biện pháp, chi trả theo đúng quy định, đúng đối tượng và đảm bảo công khai, minh bạch. Qua đó, góp phần quan trọng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, độ che phủ rừng và chất lượng rừng được nâng lên, nhân dân tích cực bảo vệ, chăm sóc và hưởng lợi từ chính sách chi trả DVMTR.

Để hiểu rõ hơn về quá trình thực hiện và hiệu quả chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, phóng viên Báo Tài nguyên và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Hoàng Xuân Ánh (ảnh), Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng xung quanh vấn đề này.

PV: Để thực hiện chính sách chi trả DVMTR đảm bảo công khai, minh bạch, chặt chẽ, hiệu quả, đúng đối tượng, tạo bước đột phá trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng bền vững, tỉnh đã triển khai những biện pháp gì, thưa ông?

Ông Hoàng Xuân Ánh:

Cao Bằng có tổng diện tích tự nhiên 670.026,09 ha, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp là 547.076,96 ha, chiếm 81,65% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh; diện tích đất có rừng là 370.478,57 ha (trong đó, rừng tự nhiên 353.539,6 ha; rừng trồng 16.938,97 ha); diện tích đất chưa có rừng là 176.593,41 ha. Năm 2020, tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh Cao Bằng là 55,29%.

Ông Hoàng Xuân Ánh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng 

Căn cứ Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày 14/1/2008 của Chính phủ về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR); Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR, UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Quyết định số 2237/QĐ-UBND ngày 11/9/2011 về thành lập Ban Chỉ đạo triển khai Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, theo đó Trưởng Ban Chỉ đạo là đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh.

Ngày 5/11/2012, UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Quyết định số 1652/QĐ-UBND về thành lập Quỹ BV&PTR tỉnh Cao Bằng, Quỹ trực thuộc Sở NN&PTNT, hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm. Ngày 5/12/2012, UBND tỉnh Cao Bằng ban hành Quyết định số 1892/QĐ-UBND về thành lập Hội đồng quản lý Quỹ BV&PTR tỉnh Cao Bằng do lãnh đạo Sở NN&PTNT làm Chủ tịch. Để tổ chức thực hiện các hoạt động của Quỹ, UBND tỉnh đã thành lập Ban Điều hành Quỹ, Ban Kiểm soát Quỹ.

Để đảm bảo tính công khai minh bạch, an toàn nguồn kinh phí, chi trả kịp thời, đúng đối tượng, hằng năm, đối với chủ rừng là tổ chức và UBND các xã có số tiền được chi trả DVMTR trên 1 triệu đồng/năm, Quỹ BV&PTR tỉnh sẽ chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của tổ chức, UBND xã.

Đối với chủ rừng là hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng dân cư, UBND xã có số tiền được chi trả tiền DVMTR dưới 1 triệu đồng/năm, Quỹ BV&PTR tỉnh Cao Bằng thực hiện thông qua hợp đồng ủy nhiệm chi với Ngân hàng NN&PTNT tỉnh Cao Bằng, Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT các huyện trực tiếp thực hiện chi trả tiền mặt cho chủ rừng tại UBND các xã theo kế hoạch và danh sách các chủ rừng do Quỹ BV&PTR tỉnh lập và có sự giám sát của công chức bộ phận nghiệp vụ Quỹ, Kiểm lâm địa bàn.

PV: Xin ông cho biết kết quả thực hiện chính sách chi trả DVMTR của tỉnh Cao Bằng từ khi triển khai đến nay?

Ông Hoàng Xuân Ánh:

Từ khi triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR của tỉnh Cao Bằng cho đến nay, tổng thu tiền DVMTR từ khi thành lập Quỹ BV&PTR (từ năm 2012 - 2020) là 127.982 triệu đồng. Trong đó, Quỹ BV&PTR Việt Nam điều phối cho Quỹ BV&PTR tỉnh Cao Bằng (từ năm 2010 - 2020) là 98.570 triệu đồng; thu nội tỉnh (thu ủy thác của các nhà máy thủy điện nội tỉnh) 28.437 triệu đồng; thu cơ sở sản xuất nước sạch 491 triệu đồng; thu lãi ngân hàng 484 triệu đồng.

Tổng chi tiền DVMTR giai đoạn từ 2010 - 2019 đã chi và chi ước chi năm 2020 là 118.751 triệu đồng. Trong đó, từ năm 2010 đến 2019 đã chi cho chủ rừng 74.349 triệu đồng; chi phí quản lý 7.903 triệu đồng; ước thực hiện năm 2020 và kinh phí tồn năm trước chuyển sang chi tiếp cho chủ rừng là 36.499 triệu đồng.

Kinh phí chưa chi và chưa phân bổ năm 2020 là 9.231 triệu đồng (đã có trong Kế hoạch thu và chi năm 2021), trong đó, kinh phí chưa chi gồm chi phí quản lý Quỹ và dự phòng là 6.879 triệu đồng; kinh phí chưa phân bổ 2.352 triệu đồng.

Dịch vụ chi trả môi trường rừng góp phần nâng cao thu nhập cho hộ dân.

Số chủ rừng được chi trả tiền DVMTR là 12.605, trong đó, chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư 12.597; 1 chủ rừng là Ban Quản lý rừng đặc dụng; 1 chủ rừng là Công ty TNHH Lâm nghiệp; 5 chủ rừng là tổ chức khác. Ngoài ra, còn có 87 chủ rừng là các tổ chức khác được Nhà nước giao rừng để quản lý (UBND xã, Ban Chỉ huy Quân sự, Đồn Biên phòng, Trường Trung học cơ sở, Hội Cựu chiến binh...). Diện tích rừng được chi trả DVMTR là 227.313,37 ha.

Từ khi thành lập đến nay, Quỹ BV&PTR tỉnh Cao Bằng đã ký được 15 hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR, trong đó, 14 hợp đồng thủy điện và 1 hợp đồng với cơ sở sản xuất nước sạch.

PV: Thưa ông, kết quả thực hiện chính sách chi trả DVMTR của tỉnh Cao Bằng đã đem lại hiệu quả, nguồn lực và tác động đến môi trường, kinh tế - xã hội của tỉnh Cao Bằng như thế nào?

Ông Hoàng Xuân Ánh:

Có thể nói, chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và có hiệu quả, góp phần quan trọng trong bảo vệ và phát triển rừng. Diện tích rừng tự nhiên hiện có được quản lý bảo vệ tốt, không có vụ vi phạm phá rừng, chất lượng rừng ngày càng được nâng lên, tỷ lệ che phủ rừng năm sau luôn tăng cao hơn năm trước. Nguồn thu tiền DVMTR đã góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân và cộng đồng, giúp tháo gỡ một phần khó khăn cho các chủ rừng, đồng thời xã hội hóa được công tác bảo vệ và phát triển rừng, khai thác được tiềm năng của rừng. Chi trả DVMTR góp phần cải thiện sinh kế cho trên 12.605 hộ gia đình, cá nhân là chủ rừng (trong đó, hộ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 90%).

Thông qua chính sách chi trả DVMTR đã nâng cao ý thức bảo vệ và phát triển rừng của chủ rừng, người dân đã nhận thức được giá trị của rừng đem lại. Các hộ gia đình sử dụng tiền DVMTR để quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, mua thêm cây giống trồng rừng, làm giàu rừng, đặc biệt đời sống hộ gia đình được nâng cao hơn. Cũng từ nguồn tiền DVMTR của các cộng đồng đã hỗ trợ xây dựng đường bê tông vào thôn, xóm; mua sắm một số trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ rừng, phục vụ sinh hoạt cộng đồng thôn, xóm.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l