Chuyển đến nội dung chính

Phát triển lâm nghiệp bền vững: Giải pháp căn cơ để ứng phó BĐKH

 (TN&MT) - Xác định rừng là thành tố quan trọng trong các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn tới được xây dựng để nâng cao chất lượng rừng, góp phần giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Từ đó đổi mới mô hình tăng trưởng từ dựa vào mở rộng diện tích, khối lượng sang tập trung vào nâng cao năng suất, chất lượng rừng hiện có, gia tăng giá trị ngành lâm nghiệp.

Tăng dày mảng xanh

Tại Hội nghị triển khai một số Văn bản của Chính phủ trong lĩnh vực lâm nghiệp vừa diễn ra, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho biết, trong 15 năm thực hiện Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020, ngành Lâm nghiệp đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, tài nguyên rừng được bảo vệ và phát triển ngày càng tốt hơn. Năm 2020, tổng diện tích rừng đạt trên 14,6 triệu ha, tỷ lệ che phủ rừng 42%. Cơ cấu 3 loại rừng đáp ứng cơ bản yêu cầu phát triển lâm nghiệp, bảo tồn đa dạng sinh học và an ninh môi trường. Bên cạnh đó, kinh tế lâm nghiệp đã giúp nhiều địa phương có nguồn thu ổn định, tạo việc làm cho nhiều lao động. Sự tăng trưởng của độ che phủ rừng có thể nói là một trong những “chìa khóa” giúp ứng phó với biến đổi khí hậu.

Với Đề án 1 tỷ cây xanh, Chính phủ đã đề ra mục tiêu đến hết năm 2025, cả nước trồng được 1 tỷ cây xanh, trong đó 690 triệu cây xanh trồng phân tán ở khu đô thị và vùng nông thôn; 310 triệu cây trồng tập trung trong rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và trồng mới rừng sản xuất, nhằm phần nào bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện cảnh quan và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đề án sẽ tăng cường xã hội hóa, thu hút mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế cùng chung tay, góp sức, đồng lòng thực hiện với thông điệp "Vì một Việt Nam xanh"; góp phần thực hiện thắng lợi Chiến lược.

Triển khai trồng 1 tỷ cây xanh trong 5 năm tới, Tổng cục Lâm nghiệp cho rằng, các địa phương cần rà soát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp cho phát triển rừng và trồng cây xanh, đặc biệt là các vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu để xác định các khu vực ưu tiên trồng cây. Quỹ đất phát triển cây xanh phải đủ lớn, ổn định, lâu dài. Đề án cũng nhấn mạnh việc chủ động bố trí ngân sách địa phương và kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp, huy động các nguồn vốn hợp pháp tham gia, chung tay xã hội hóa nguồn lực thực hiện Đề án. Về lâu dài, việc tăng dày các mảng xanh sẽ làm tăng khả năng phòng hộ, góp phần giảm nhẹ những thiệt hại do bão lũ và thiên tai gây ra.

Nâng cao chất lượng rừng, góp phần giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Ảnh: MH

Đòn bẩy cho ngành gỗ hợp pháp

Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ và lâm sản đạt trên 13 tỷ USD, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản ở vị trí thứ 5 trên thế giới, thứ 2 châu Á. Dù vậy, thách thức vẫn hiện hữu khi diện tích rừng tăng nhưng chất lượng rừng còn hạn chế, năng suất rừng trồng tuy được cải thiện nhưng vẫn còn thấp, chủ yếu gỗ nhỏ, chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu.

Dự kiến đến năm 2030, tổng thu từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng có thể tới 4.300 tỷ đồng, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2020. Trong đó, phần lớn đến từ các cơ sở thủy điện, các cơ sở sản xuất nước sạch, cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nguồn nước từ rừng.

Thứ trưởng Hà Công Tuấn nhấn mạnh, để thực hiện tốt Chiến lược, ngành Lâm nghiệp sẽ tiếp tục thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên đến năm 2030, không khai thác gỗ từ rừng tự nhiên; phát triển công nghiệp chế biến lâm sản gắn với quá trình cơ cấu lại ngành Lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

Muốn làm được điều này, trong giai đoạn tới, công tác nghiên cứu chọn tạo giống cây lâm nghiệp sẽ được đẩy mạnh, phấn đấu 90% diện tích rừng trồng là từ nguồn giống cây lâm nghiệp đã được công nhận. Bên cạnh đó, chú trọng đảm bảo nguồn gốc gỗ hợp pháp theo tiêu chuẩn quốc tế cho các ngành hàng xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường khó tính.

Theo ông Trần Quang Bảo - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, cần thúc đẩy hình thành những doanh nghiệp lớn, khu công nghiệp lớn sản xuất và chế biến hiện đại mang tầm cỡ khu vực và thế giới để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, phát triển các hình thức thương mại hiện đại, cùng với xây dựng thương hiệu gỗ Việt, sử dụng nguồn gỗ hợp pháp và mở rộng thị trường xuất khẩu gỗ nhằm đảm bảo phát triển ổn định, bền vững.

Đơn cử, tỉnh Tuyên Quang là một trong những địa phương đi đầu về trồng rừng có chứng chỉ bền vững FSC, đảm bảo tốt đầu ra cho bà con nông dân. Bà Mai Thị Hoàng, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Tuyên Quang cho biết, kinh tế lâm nghiệp được lãnh đạo tỉnh và các địa phương quan tâm phát triển bằng các chính sách hỗ trợ phát triển hạ tầng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, liên kết với nông dân trồng rừng. Hiện, tỷ lệ che phủ rừng của Tuyên Quang đạt tới 62,5%, cao hơn bình quân chung cả nước. Diện tích rừng có chứng chỉ FSC đạt 35.000 ha.

Sẽ thí điểm dịch vụ hấp thụ và lưu trữ các-bon rừng với hai ngành nhiệt điện than và xi măng. Các ngành phát thải lớn khác như sản xuất năng lượng, sản xuất thép, giao thông vận tải... sẽ được áp dụng sau đó. Dự kiến đến năm 2030, tổng mức thu từ nguồn này có thể đạt khoảng 630 tỷ đồng.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l