Chuyển đến nội dung chính

Nhập khẩu gỗ nhiệt đới làm nguyên liệu: Cảnh giác với nguồn cung rủi ro

 Do nguồn cung thiếu hụt, hằng năm, Việt Nam phải nhập khẩu gỗ nguyên liệu để phục vụ sản xuất. Nguy cơ rủi ro từ gỗ nhập khẩu rất lớn.

Nhập khẩu gỗ có xu hướng tăng mạnh

Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest), ngành gỗ Việt Nam mở rộng trong bối cảnh nguồn cung gỗ nguyên liệu trong nước không đủ đáp ứng cho nhu cầu chế biến phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ đóng cửa rừng tự nhiên, nguồn cung gỗ nguyên liệu trong nước chủ yếu là nguồn rừng trồng, bao gồm khai thác gỗ rừng sản xuất khoảng 32 triệu mét khối.

Tuy nhiên, hiện nay, có đến 60-70% lượng gỗ keo rừng trồng là gỗ nhỏ, được đưa vào nguyên liệu đầu vào sản xuất dăm, viên nén và một số loại ván. Phần nguyên liệu còn lại là gỗ lớn, được đưa vào chế biến các mặt hàng đồ gỗ như đồ gỗ văn phòng, phòng ngủ chủ yếu để phục vụ xuất khẩu.

Nguồn cung trong nước không đủ cung cấp cho chế biến, khiến hằng năm Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 4-5 triệu mét khối gỗ quy tròn. Lượng gỗ này được đưa vào chế biến thành các sản phẩm xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.

Trong đó, nhập khẩu gỗ nhiệt đới, hay còn gọi là gỗ rừng tự nhiên, chiếm tỉ lệ khá lớn trong khối nguyên liệu của ngành gỗ. Bình quân mỗi năm, Việt Nam nhập khẩu khoảng 2-2,5 triệu mét khối gỗ tròn và xẻ quy tròn là gỗ nhiệt đới. Lượng nhập từ nguồn này chiếm khoảng 40-50% trong tổng lượng gỗ nhập vào Việt Nam từ tất cả các nguồn.

Việt Nam cam kết sử dụng nguồn gỗ hợp pháp

Theo Viforest, Hiệp định VPA/FLEGT có hiệu lực ngày 1.6.2019, tham gia Hiệp định, Chính phủ Việt Nam cam kết kiểm soát tính hợp pháp của toàn bộ chuỗi cung. Triển khai các cam kết trong VPA, ngày 1.9.2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 102/NĐ-CP quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam (sau đây được gọi tắt là Nghị định 102), hiệu lực thi hành từ ngày 30.10.2020.

Nghị định 102 quy định, gỗ nhập khẩu vào Việt Nam được coi là rủi ro nếu loài gỗ nằm trong Phụ lục của Công ước CITES, hoặc gỗ nằm trong nhóm IA, IIA thuộc Danh mục các loài thực vật, động vật nguyên cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ; gỗ lần đầu tiên được nhập khẩu vào Việt Nam; gỗ có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng tại các quốc gia khai thác.

Mặt khác, theo Quyết định số 4832 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trừ Nam Phi, toàn bộ quốc gia thuộc khu vực Châu Phi cung gỗ nguyên liệu cho Việt Nam không nằm trong danh sách vùng địa lý tích cực.

"Toàn bộ quốc gia thuộc khu vực Nam Mỹ, Lào, Campuchia và Papua New Guinea cũng không nằm trong danh sách này. Điều này có nghĩa rằng, trừ Nam Phi, tất cả nguồn cung gỗ nhiệt đới cho Việt Nam đều được coi là gỗ rủi ro" - TS Tô Xuân Phúc, Chuyên gia cao cấp của Tổ chức Forest Trends, thông tin.

Khảo sát của nhóm nghiên cứu của Tổ chức Forest Trends và các Hiệp hội gỗ trên cả nước cho thấy: Lượng gỗ rủi ro nhập khẩu vào Việt Nam khá lớn. Trong khâu kiểm soát nhập khẩu, các hoạt động kiểm soát của các cơ quan chức năng theo tinh thần của Nghị định 102 đang gặp khó khăn, chủ yếu là do thiếu thông tin về chuỗi cung gỗ xuất khẩu tại các quốc gia cung cấp gỗ cho Việt Nam; các rủi ro đối với luồng cung nhập khẩu này vẫn đang tồn tại, chưa được giải quyết triệt để.

Ngày 20.3, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam phối hợp với Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình định, Tổ chức Forest Trends tổ chức hội thảo “Kiểm soát tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ nhiệt đới nhập khẩu” chia sẻ thông tin về các vấn đề này.

VŨ LONG

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l