Chuyển đến nội dung chính

Điều gì tạo nên kỷ lục xuất khẩu ngành gỗ?

 (Chinhphu.vn) -Trong 3 tháng đầu năm nay ngành chế biến và xuất khẩu gỗ đã ghi nhận con số kim ngạch xuất khẩu cao kỷ lục, vượt lên những tác động do dịch COVID-19 mang lại. Điều gì làm nên con số này?

Ông Bùi Chính Nghĩa, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp
Ông Bùi Chính Nghĩa, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo điện tử Chính phủ về một số vấn đề xuất khẩu gỗ.

3 tháng đầu năm 2021 ghi nhận sự tăng trưởng ngoạn mục trong xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ. Ông đánh giá như thế nào về con số này?

Ông Bùi Chính Nghĩa: Trong 3 tháng đầu năm nay ngành chế biến và xuất khẩu gỗ đã ghi nhận con số kim ngạch xuất khẩu cao kỷ lục, vượt lên những tác động do dịch COVID-19 mang lại.

Thống kê cho thấy, giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ trong 3 tháng qua đạt gần 4 tỷ USD, tăng 46% so với cùng kỳ năm 2020. Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam và chiếm 85,5% tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ.

Đây là con số kỷ lục, chưa bao giờ có. Con số này là kết quả của cả một quá trình các doanh nghiệp cố gắng vượt qua khó khăn, tự thân vận động mở rộng sản xuất, tìm kiếm cơ hội, mở rộng, tiếp cận nhiều thị trường mới trong bối cảnh dịch bệnh tác động nghiêm trọng đến kinh tế thế giới và Việt Nam.

Một trong những nguyên nhân khiến xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng trưởng ấn tượng là do trong giai đoạn thực hiện giãn cách xã hội vì dịch COVID-19, nhiều người có thời gian đầu tư, sửa sang nhà cửa, nội thất.  

Tôi cho rằng, thị trường đồ gỗ, nội thất của thế giới còn rất nhiều dư địa phát triển. Hiện xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ của Việt Nam mới chiếm khoảng 9% thị phần, còn đến hơn 90% thị phần để chúng tiếp cận, chiếm lĩnh. Với tốc độ phát triển xuất khẩu mạnh mẽ, ấn tượng như hiện nay, tôi nghĩ Việt Nam không phải là nước đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu đồ gỗ, mà có thể đứng thứ 4, thứ 3 thế giới về lĩnh vực này.

Có ý kiến cho rằng, bên cạnh niềm vui về con số tăng trưởng xuất khẩu, các doanh nghiệp cũng cần quan tâm đến các hàng rào phi thuế quan các nước dựng lên để bảo hộ sản xuất trong nước. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Ông Bùi Chính Nghĩa: Xuất khẩu gỗ của Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng cao, có vị thế trên thị trường, thì rõ ràng sẽ có những ưu thế cũng như thách thức, đặc biệt ở các thị trường lớn.

Chúng tôi cho rằng, vấn đề mà các doanh nghiệp cần quan tâm khi thâm nhập thị trường, đó là đáp ứng tốt các yêu cầu của đối tác. Khi xuất khẩu sản phẩm sang thị trường nào thì phải hiểu quy định của thị trường đó, nắm được luật của các nước và tuân thủ đầy đủ các quy định. Song song với đó các doanh nghiệp cần đẩy mạnh liên kết giữa với nhau trong phát triển thị trường, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Theo ông, để có nguồn gỗ nguyên liệu sạch phục vụ chế biến, đáp ứng truy xuất nguồn gốc của thị trường, việc liên kết trồng rừng cần thực hiện như thế nào?

Ông Bùi Chính Nghĩa: Về nguồn nhập khẩu, để kiểm soát nguồn nguyên liệu, theo Nghị định 102/2020-NĐ-CP quy định hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp, gỗ nhập khẩu được thực hiện thông qua thiết lập cơ chế kiểm soát nguồn gỗ nhập khẩu và các loài gỗ nhập khẩu. Gỗ rủi ro là gỗ được nhập khẩu từ các vùng địa lý không tích cực và là các loài rủi ro. Nghị định quy định, khi nhập khẩu gỗ rủi ro vào Việt Nam, các doanh nghiệp nhập khẩu cần phải bổ sung giấy tờ để minh chứng cho tính hợp pháp của gỗ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần phải đưa ra các biện pháp giảm thiểu rủi ro.

Hiện nay, nhiều mô hình liên kết trồng rừng, sản xuất gỗ nguyên liệu đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Có nhiều mô hình sản xuất liên kết theo nhóm hộ, số lượng hợp tác xã liên kết trồng rừng ngày càng tăng. Hiện đã có 160 hợp tác xã lâm nghiệp liên kết trồng rừng có chứng chỉ với doanh nghiệp, như các nhóm hộ ở Yên Bái, Tuyên Quang, Thừa Thiên-Huế, Quảng Trị… Hiện, cả nước đã có 300.000 ha rừng trồng có chứng chỉ, cung cấp khoảng 3 triệu mét khối gỗ cho chế biến.

Bộ NN&PTNT khuyến khích các địa phương đẩy nhanh liên kết hợp tác trồng rừng, từ đó tạo ra chuỗi giá trị giữa người trồng trừng với các doanh nghiệp, đảm bảo lợi ích của tất cả các bên.

Trân trọng cảm ơn ông!

Đỗ Hương (thực hiện)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l