Chuyển đến nội dung chính

Bồi thường tài nguyên rừng tại Lâm Đồng - không dễ!

 Ngành nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng đang tích cực thực hiện Kết luận thanh tra số 929 (ngày 12.6.2020) của Thanh tra Chính phủ về chấp hành nghĩa vụ tài chính về thuê rừng, bồi thường tài nguyên rừng. Tuy nhiên, việc bồi thường tài nguyên rừng nảy sinh nhiều khó khăn, vướng mắc không dễ xử lý.

74 cán bộ, công chức bị kỷ luật

Từ 2005 đến nay, toàn tỉnh Lâm Đồng đã thu hút 488 dự án/473 doanh nghiệp có liên quan đến rừng và đất lâm nghiệp; có quyết định thu hồi 200 dự án/31.760ha (gồm 164 dự án thu hồi toàn bộ/27.521ha và 36 dự án thu hồi một phần/4.209ha) do không triển khai thực hiện dự án hoặc triển khai chậm tiến độ, không tổ chức, bố trí lực lượng quản lý bảo vệ rừng trên diện tích được thuê để rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép mà không có biện pháp ngăn chặn.

Toàn tỉnh hiện còn 324 dự án/309 doanh nghiệp được giao, cho thuê đất, thuê rừng để đầu tư triển khai dự án, với tổng diện tích là 52.859ha (đã trừ diện tích thu hồi một phần). Tính đến tháng 12.2020, toàn tỉnh có 128 dự án (128 dự án/128 doanh nghiệp) phải bồi thường thiệt hại tài nguyên rừng do để mất rừng (1.959ha) với tổng số tiền hơn 335 tỉ đồng (đã thực hiện đóng tiền hơn 50 tỉ đồng, trong đó giá trị lâm sản 102 hơn tỉ đồng, giá trị môi trường hơn 233 tỉ đồng); còn lại chưa thực hiện hơn 284 tỉ đồng). Trong 128 dự án nêu trên, có 35 dự án đã bị thu hồi toàn bộ dự án với số tiền hơn 90 tỉ đồng.

Theo Phụ lục 06, Kết luận thanh tra số 929 của Thanh tra Chính phủ, giai đoạn 2013 - 2018 có 82 doanh nghiệp chưa thu được tiền bồi thường tài nguyên rừng do để rừng bị phá, bị lấn chiếm với tổng số tiền hơn 241 tỉ đồng.

Qua rà soát, Sở Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn (NNPTNT) tỉnh Lâm Đồng xác định trong danh sách tại Phụ lục 06, tổng số tiền hơn 223 tỉ đồng có 21 doanh nghiệp là đền bù giá trị lâm sản với số tiền hơn 20 tỉ đồng và 61 doanh nghiệp bồi thường giá trị tài nguyên rừng do để mất rừng với số tiền hơn 203 tỉ đồng (trong đó giá trị lâm sản hơn 56 tỉ đồng, giá trị môi trường hơn 146 tỉ đồng).

Số tiền chênh lệch so với Phụ lục 06 của Thanh tra Chính phủ là hơn 29,8 tỉ đồng. Nguyên nhân do Sở Tài chính đã thu hồi và điều chỉnh các quyết định của một số công ty như: Công ty TNHH Lâm nghiệp Tam Hiệp, Công ty CP TM XNK Mai Viết và Công ty TNHH BĐS Di Đức.

Liên quan đến trách nhiệm của lực lượng Kiểm lâm trong công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh, Sở NNPTNT tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện kiểm điểm, kỷ luật 74 lượt cán bộ công chức thuộc lực lượng kiểm lâm do thiếu trách nhiệm trong giám sát, kiểm tra dẫn đến việc các doanh nghiệp bị bồi thường tài nguyên rừng nêu trên.

Nhiều vướng mắc và không khả thi

Theo Sở NNPTNT tỉnh Lâm Đồng, một số dự án đã bị thu hồi toàn bộ (toàn tỉnh có 35 dự án đã bị thu hồi toàn bộ thuộc đối tượng phải đóng tiền bồi thường, số tiền hơn 90 tỉ đồng và theo Phụ lục 06 của Thanh tra Chính phủ 26 dự án đã được UBND tỉnh thu hồi toàn bộ với số tiền hơn 74 tỉ đồng) nên việc đôn đốc các doanh nghiệp này nộp tiền bồi thường giá trị tài nguyên rừng là không khả thi.

Bên cạnh đó, một số trường hợp còn lại do khó khăn và trây ỳ không chấp hành việc nộp tiền bồi thường mặc dù đã được các cơ quan chức năng đôn đốc nhiều lần vẫn chưa chấp hành nộp tiền bồi thường thiệt hại tài nguyên rừng vào ngân sách Nhà nước.

Trong tổng số tiền phải bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp thì số tiền bồi thường về môi trường quá cao nên hầu hết các doanh nghiệp không có khả năng thực hiện.

Hiện nay, một số doanh nghiệp thay đổi địa chỉ trụ sở nhưng không thông báo cho các cơ quan chức năng; ngoài ra một số trường hợp thay đổi người đại diện theo pháp luật…. nên gây khó khăn trong việc liên hệ, đôn đốc việc nộp tiền và chỉ đạo của các cơ quan chức năng tại địa phương.

Đặc biệt, ông Võ Danh Tuyên - Phó Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Lâm Đồng - báo cáo UBND tỉnh rằng: “Sự phối hợp chưa đồng bộ giữa doanh nghiệp, chính quyền địa phương và các ban ngành trong việc ngăn chặn vi phạm. Về phụ lục 06 của Thanh tra Chính phủ: danh sách có 21 doanh nghiệp là các trường hợp không phải bồi thường do mất rừng, khai thác rừng trái phép mà đây là các trường hợp phải đền bù giá trị lâm sản trên diện tích được cải tạo rừng nghèo, rừng nghèo kiệt để trồng rừng, trồng caosu nhưng do vượt sản lượng được cấp phép khai thác, chênh lệch nhóm gỗ; trên diện tích được chuyển đổi mục đích sử dụng rừng để xây dựng công trình, khai thác đá, thủy điện… (toàn bộ là tiền đền bù về lâm sản)”.

Đó là chưa kể, việc yêu cầu nộp tiền bồi thường giá trị tài nguyên rừng đối với doanh nghiệp đã bị thu hồi toàn bộ dự án, hiện nay không còn hoạt động nào tại tỉnh Lâm Đồng rất khó khả thi. Một số doanh nghiệp đã có nhiều biện pháp tích cực trong công tác quản lý bảo vệ rừng đã giao nhưng do lực lượng quản lý rừng của các doanh nghiệp còn mỏng nên không thể giữ được diện tích rừng được giao.

Đa phần việc mất rừng xảy ra rải rác trong giai đoạn đầu các doanh nghiệp thuê rừng mới nhận bàn giao, thiếu kinh nghiệm trong quản lý bảo vệ rừng và giao thời giữa chủ rừng nhà nước quản lý chuyển qua cho doanh nghiệp thuê rừng. Bên cạnh đó, một số hộ dân địa phương đã bất chấp, tranh thủ lơ là của doanh nghiệp để lấn chiếm đất, phá rừng mong chờ cơ hội được đền bù...

NHIỆT BĂNG

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l