Doanh nghiệp ngành cao su còn lúng túng trong quá trình chứng minh gỗ hợp pháp

 Dự án “Thúc đẩy sự tuân thủ VNTLAS trong ngành cao su Việt Nam” đã được triển khai thực hiện từ tháng 11/2020 nhằm hỗ trợ các hộ tiểu điền và doanh nghiệp nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu Hệ thống VNTLAS, tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện.

Việc đáp ứng các yêu cầu về gỗ hợp pháp còn nhiều hạn chế

Tại hội thảo kỹ thuật Dự án “Thúc đẩy sự tuân thủ VNTLAS trong ngành cao su Việt Nam” diễn ra ngày 31/3, TS. Nguyễn Tử Kim, Chuyên gia lâm nghiệp của dự án, cho biết kết quả khảo sát cho thấy 100% tiểu điền không biết về VPA/FLEGT và không biết các quy định VNTLAS trong hệ thống gỗ hợp pháp Việt Nam. 

Bên cạnh đó, có tới 63% doanh nghiệp chưa nắm bắt được các yêu cầu của FLEGT/VPA và không đáp ứng được yêu cầu chứng minh nguồn gốc gỗ trong nước hợp pháp.

Cũng theo TS Kim hiện chỉ các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu có quan tâm đến VNTLAS và đã triển khai lưu trữ các loại giấy tờ chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp khi tham gia chuỗi cung ứng gỗ. Việc tuân thủ các yêu cầu về kê khai và báo cáo kiểm soát chuỗi cung ứng cũng chưa được doanh nghiệp chú ý.

Đối với các bằng chứng về hoạt động chế biến, sản xuất của doanh nghiệp, chưa có nhiều doanh nghiệp chú tâm đến việc xây dựng hệ thống lưu trữ hồ sơ về các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Đa số doanh nghiệp hiện tại mới lưu theo cách thụ động, chưa lưu trữ có hệ thống và rất khó để giải trình khi bị kiểm tra hoặc yêu cầu giải trình.

"Phần lớn doanh nghiệp gỗ Việt Nam và đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đang rất khó khăn với việc tiếp cận thông tin nên việc đáp ứng tất cả các yêu cầu của pháp luật về gỗ hợp pháp có nhiều hạn chế", ông Kim cho hay.

Ngoài ra, các kênh liên lạc với khách hàng tại thị trường châu Âu rất hạn chế, thậm chí nhiều doanh nghiệp không làm ăn trực tiếp với khách hàng châu Âu mà thông qua trung gian. 

Do đó, những yêu cầu về lâm nghiệp, về gỗ từ phía châu Âu không đến được doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, gây lúng túng trong quá trình thực hiện VPA/FLEGT.

Việc đáp ứng các yêu cầu về gỗ hợp pháp trong ngành cao su còn nhiều hạn chế - Ảnh 1.

Các diễn giả tại hội thảo kỹ thuật Dự án “Thúc đẩy sự tuân thủ VNTLAS trong ngành cao su Việt Nam”. (Ảnh: Như Huỳnh).

Đồng bộ nhiều giải pháp hỗ trợ việc tuân thủ VNTLAS

Theo TS. Trần Thị Thúy Hoa, chuyên gia kỹ thuật dự án đánh giá, VNTLAS được ban hành đã tạo khung pháp lý đảm bảo tất cả sản phẩm gỗ xuất khẩu từ Việt Nam sang EU có nguồn gốc và được sản xuất hợp pháp, nhưng cần một số giải pháp thúc đẩy và hỗ trợ việc tuân thủ theo quy định.

Theo đó, các cơ quan chức năng cần tiếp tục hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tất cả hộ gia đình và tổ chức tham gia trồng cao su.

Đồng thời phối hợp chặt chẽ giữa UBND cấp xã và đơn vị kiểm lâm tại địa bàn để tạo thuận lợi cho việc xác nhận nguồn gốc gỗ cao su hợp pháp theo VNTLAS.

Các tư thương cũng cần được khuyến khích trong việc đăng ký giấy phép kinh doanh theo pháp luật và hướng dẫn thực hiện những quy định của VNTLAS để đảm bảo việc thu mua và cung cấp nguồn gỗ cao su hợp pháp.

Ngoài ra, nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp về quyền lợi, giảm rủi ro và có trách nhiệm khi sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ cao su được xác nhận nguồn gốc hợp pháp, hướng dẫn cho doanh nghiệp các thủ tục, hồ sơ cần thực hiện để tuân thủ VNTLAS và đáp ứng điều kiện được cấp phép FLEGT.

Cùng với đó, cần có hỗ trợ cho các hiệp hội ngành hàng, các tổ chức triển khai VNTLAS cùng phối hợp trao đổi thông tin và chia sẻ kinh nghiệm để thúc đẩy việc tuân thủ VNTLAS.

Cũng theo bà Hoa cần có những khảo sát, nghiên cứu để khuyến khích, hướng dẫn người trồng các giải pháp kỹ thuật phát triển cao su bền vững trong các hệ thống sản xuất có hiệu quả kinh tế và sử dụng đất cao, đa dạng nguồn thu nhập, tăng khả năng thích ứng với biến động của thị trường và biến đổi khí hậu.

Việc đáp ứng các yêu cầu về gỗ hợp pháp trong ngành cao su còn nhiều hạn chế - Ảnh 2.

Ông Trần Ngọc Thuận, Chủ tịch Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: Như Huỳnh)

Theo số liệu của Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) trong giai đoạn 2016 – 2020, sản lượng gỗ cao su ước đạt khoảng 3,89 triệu m3 gỗ quy tròn/năm và có tiềm năng đạt từ 3,22 – 13,1 triệu m3 gỗ quy tròn/năm từ sau năm 2021. Trong đó, gỗ cao su tiểu điền chiếm tỷ trọng tăng từ 20% - 45%.

Tuy nhiên, diện tích cao su đã giảm dần từ năm 2015 – 2019 và có thể tiếp tục giảm do sự phát triển công nghiệp hóa và ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao của các địa phương. Do đó, có thể ảnh hưởng đến sản lượng gỗ cao su sau năm 2040.

Ông Trần Ngọc Thuận, Chủ tịch VRA, cho biết Việt Nam đã ký kết Hiệp định VPA/FLEGT với EU và cam kết tất cả gỗ khai thác, nhập khẩu, vận chuyển, chế biến, mua bán và xuất khẩu từ Việt Nam vào thị trường EU đều được sản xuất hợp pháp.

Theo đó, Dự án “Thúc đẩy sự tuân thủ VNTLAS trong ngành cao su Việt Nam” đã được triển khai thực hiện từ tháng 11/2020.

Dự án nhằm hỗ trợ các hộ tiểu điền và doanh nghiệp ngành cao su nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu Hệ thống VNTLAS với sự hỗ trợ của Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) và sự ủng hộ của Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Việc thiết lập VNTLAS, cùng với cơ chế cấp phép FLEGT, nhằm đảm bảo rằng chỉ những sản phẩm gỗ có giấy phép FLEGT được phép đi vào thị trường EU.

EU là một trong 5 thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ quan trọng của Việt Nam bên cạnh các thị trường xuất khẩu khác như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. 

Trong năm 2019, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang EU đạt trên 1,03 tỷ USD, chiếm 9,2% thị phần xuất khẩu.

Đến nay, dự án bước đầu đã hoàn thành hai hoạt động đầu tiên trong kế hoạch thực hiện, bao gồm xây dựng báo cáo về hiện trạng của các nhà sản xuất và các nhà máy chế biến gỗ cao su tại Việt Nam và đánh giá việc tuân thủ các yêu cầu của VNTLAS trong chuỗi cung ứng gỗ cao su Việt Nam.

Thời gian tới, dự án sẽ phát triển bộ hồ sơ gỗ hợp pháp cho gỗ cao su Việt Nam, từ đó xây dựng tài liệu hướng dẫn VNTLAS cho chuỗi cung gỗ cao su tiểu điền.

Như Huỳnh

Nhận xét