Chuyển đến nội dung chính

Có một rừng lim xanh như thế

 Bỏ đường cái lớn, vượt gần chục cây số đường thôn gập ghềnh, có lúc ngã dúi dụi, mới vào được khu rừng lim do người dân tộc Cao Lan trông coi và bảo vệ…

Cán bộ Hạt Kiểm lâm Lục Nam và tác giả (trái).

Cán bộ Hạt Kiểm lâm Lục Nam và tác giả (trái).

Huyền thoại rừng lim xanh

Khu rừng lim xanh này, nằm ở thôn Đá Húc, xã Bình Sơn, huyện Lục Nam (Bắc Giang). Nay 3 thôn Đá Húc, Suối Mản, Nghè Mản sáp nhập lại thành thôn Nghè Mản, do Tơ Văn Thắng làm Trưởng thôn.

Đây là khu rừng lim xanh do người Cao Lan trông giữ. Một trong những cách trông giữ độc đáo, lạ lùng về bảo vệ rừng (BVR). Nhất là bảo vệ loại rừng quí hiếm, như rừng lim xanh ở vùng này.

Cách quản lý, bảo vệ độc đáo và lạ lùng ở chỗ: Trông coi rừng, do người địa phương, tức là người dân tộc Cao Lan.

Đi ngược thời gian, thì việc quản lý, bảo vệ rừng này có từ thời bao cấp, thời quản lý của HTX. Sau đó việc BVR chuyển sang các tổ BVR của thôn, bản. Mỗi thôn có một tổ, gọi là Tổ xung kích BVR. Mỗi tổ xung kích có từ 3 đến 5 người.

Quản lý trực tiếp, còn có một người, gọi là Trưởng nhang, làm nhiệm vụ quét dọn, hương khói trong khu rừng. Khu rừng này có một miếu thờ lớn, gọi là miếu chính. Xung quanh có các miếu nhỏ. Người dân ở đây cho biết, việc trông coi, chăm sóc rừng, đều do đồng bào Cao Lan đảm nhiệm. Người Cao Lan trông coi tự nguyện, cha truyền con nối, hoặc đời nọ truyền đời kia, không đứt quãng, không sao nhãng. Trưởng nhang cũng vậy, đời truyền đời, không lúc nào tắt hương khói.

Có một điều rất kỳ lạ ở khu rừng này, là miếu thờ linh thiêng đến nỗi khi không có người trông giữ, nhưng rừng lim có bao nhiêu cây vẫn nguyên vẹn, không suy suyển mảy may.

Lim xanh thân cao, thẳng, thớ gỗ rất mịn, khác hẳn loại lim thường. Gỗ được dùng đóng các loại đồ đạc quý. Cho nên đó là mục tiêu khai thác của lâm tặc.

Bọn lâm tặc cực kỳ thèm muốn loại lim xanh, nhất là lim xanh ở Bình Sơn – Bắc Giang này. Ấy thế mà hàng trăm năm nay, rừng lim vẫn nguyên vẹn và phát triển.

Hiện nay có hàng trăm cây từ hai đến ba người ôm. Có không ít những cây bốn đến sáu người ôm. Và cũng không ít cây có tuổi thọ từ 100 tuổi đổ lên.

Làm cách nào để bảo vệ khu rừng quý hiếm? Như trên đã nói, ngoài yếu tố con người, còn một yế tố quan trọng, là tâm linh. Ngôi miếu kia, chính là yếu tố tâm linh.

Có những toán lâm tặc vào rừng, chỉ khai thác kiểu “lặt vặt” thôi, khi về địa phương, không hiểu sao ốm đau, bệnh tật, thậm chí chết người. Và họ nghĩ rằng, đó chính là dám động vào rừng lim xanh, dám động vào sự linh thiêng của núi rừng.

Người Cao Lan kể rằng, khoảng những năm 90 của thế kỷ trước, có một nhóm lâm tặc lẻn vào rừng, chặt mất 3 cây lim xanh. Mang đi được ít lâu, bỗng người trông coi rừng thấy họ mang 3 cây lim xanh lại trả. Rồi khấn vái xì xụp ở miếu. Họ nói rằng, dường như “thần rừng” đã trừng phạt họ, gia đình họ, nên phải đích thân mang trả lại cho rừng.

Từ đó đến nay, không có gã lâm tặc nào dám bén mảng, xâm hại đến khu rừng. Và những cây lim xanh, cứ xanh tươi mơn mởn, cứ phát triển, những thân cây thẳng tắp cứ vươn lên, vươn lên mãi.

Phó Hạt trưởng kiểm lâm Lục Nam Nguyễn Đình Dũng cho biết, vấn đề cốt lõi vẫn là những người coi rừng, giữ rừng. Nhưng chính yếu tố tâm linh đã tác động rất mạnh đến bọn lâm tặc. Và sự kết hợp này khiến bọn lâm tặc không dám bén mảng đến rừng, không còn ý tưởng khai thác rừng ở đây…

Ngôi miếu nhỏ trong rừng lim xanh.

Ngôi miếu nhỏ trong rừng lim xanh.

Sống vì rừng, nguồn vui từ rừng

Trước đây, những người Cao Lan ở gần khu rừng lim xanh, sống nhờ vào ruộng cấy lúa. Ở vùng này núi đồi xen ruộng, nên ruộng đất manh mún. Chỉ trồng lúa thì đời sống rất khó khăn, thậm chí không đủ sống. Chính quyền địa phương đã tạo điều kiện cho người dân ở đây bằng cách giao đất trồng rừng.

Còn khá nhiều đất đồi, đất núi bỏ trống. Người dân nhận đất để trồng rừng. Có gia đình nhận 1,2ha. Có gia đình nhận trên chục héc-ta. Thậm chí có gia đình nhận cả trăm hec-ta. Đất nhận được trồng bạch đàn. Loại cây này mau lớn, chỉ 6 đến 8 năm là khai thác được.

“Đầu ra” đã có các cơ sở chế biến gỗ quanh địa bàn, các nhà máy giấy ngoại tỉnh thu mua. Từ khi nhận đất trồng rừng, đời sống người dân dễ chịu hẳn. Có gia đình trở thành “đại gia”, cuộc sống sung túc. Như vậy, để có thể “sống vì rừng”, người dân tồn tại bằng cách trồng thêm rừng, phát triển rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Thật “nhất cử lưỡng tiện”.

Sống vì rừng. Quản lý rừng bằng đam mê, lấy quản lý rừng làm niềm vui. Đó là cách sống của người Cao Lan ở vùng đất này. Chúng tôi được người dân kể lại rằng, có nhiều cụ già trên tuổi bảy mươi, có cụ gần chín mươi… đã sống nhiều năm ở cạnh rừng, rất say mê với việc BVR.

Thậm chí có cụ già “mê rừng” đến mức coi cây già như bè bạn, coi cây non như con cháu. Ngày nào không ra “ngắm” rừng thì nhớ không chịu được. Cụ Tơ Văn Quang, 88 tuổi, chính là một người như thế.

Sức sống của rừng

Cán bộ kiểm lâm Nguyễn Đình Dũng cho biết, khu rừng lim xanh này diện tích không lớn, chỉ dưới chục hec-ta. Nhưng đây là khu rừng đặc biệt quý hiếm, vì đã tồn tại nguyên vẹn hàng trăm năm nay. Cũng nhờ sự quản lý, bảo vệ độc đáo, khác lạ của người dân ở đây, sự kết hợp khéo léo, nhuần nhuyễn giữa cán bộ kiểm lâm và người thôn bản, nên khu rừng dù rất gần đường cái lớn, vẫn được giữ nguyên sơ và sẽ còn nguyên sơ mãi mãi…

Theo anh Lục Văn Chắc – Phó Trưởng thôn Nghè Mản – thì thôn đang có dự kiến sẽ nhân giống lim xanh để thay thế các cây bị bệnh và làm dày đặc thêm khu rừng. Một mặt thôn khai thác giống cây có sẵn, một mặt nhờ sự giúp sức của Hạt kiểm lâm. Điều này đã được cán bộ kiểm lâm của Hạt ghi nhận và sẽ nhanh chóng thực hiện. Đây cũng đã nằm trong chương trình phát triển rừng của Hạt.

Chúng tôi được biết, Hạt Kiểm lâm Lục Nam rất coi trọng việc BVR như ở Nghè Mản. Việc BVR ở đây là sự tự nguyện, đã ăn sâu vào đời sống của người dân thôn bản, như thể BVR rừng là nguồn vui, là máu thịt của họ. Bởi thế mà rừng được bảo vệ, không bao giờ tàn phai, không bao giờ bị phá hoại. Đúng là một “mô hình” mà nếu phát triển ở mọi nơi, thì thật tuyệt vời. Đương nhiên ở nơi đây làm được, nhưng nơi khác thì không.

Hy vọng mô hình này sẽ được nhân rộng ở nhiều nơi…

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l