Chuyển đến nội dung chính

Bảo vệ hệ sinh thái rừng tràm Vườn Quốc gia U Minh Hạ

 Hệ sinh thái rừng tràm ở Cà Mau trong vài chục năm gần đây đã bị suy giảm khá nghiêm trọng. Năm 1943, ở khu vực Cà Mau có khoảng 60.000ha rừng tràm, với hệ thống rừng tràm nguyên sinh rộng lớn. Đến năm 2000 là 38.358ha, đến năm 2008 là 36.248ha rừng và đến nay diện tích rừng tràm ở Cà Mau khoảng 35.000ha, tập trung chủ yếu ở các huyện: U Minh, Thới Bình và huyện Trần Văn Thời.

Hệ sinh thái rừng tràm có tầm quan trọng đặc biệt trong việc cung cấp không gian trú ngụ và nuôi dưỡng của đa dạng sinh học động, thực vật và vi sinh vật trong vùng “bồn trũng” ngập nước, chua, phèn, nguyên sinh cổ xưa để lại… Lớp than bùn dạng vỉa lộ thiên trong hệ sinh thái rừng tràm có giá trị như một lớp đệm giữ cân bằng môi trường đất và nước của hệ sinh thái với các chức năng lọc hút nước, điều hòa môi trường nước và đất, có tác dụng giữ ẩm ém phèn và cung cấp dinh dưỡng cho hệ sinh thái.

Cần tăng cường truyền thông giáo dục môi trường cho toàn xã hội để bảo vệ hệ sinh thái rừng tràm Cà Mau. Ảnh: BẢO LÂM

Cần tăng cường truyền thông giáo dục môi trường cho toàn xã hội để bảo vệ hệ sinh thái rừng tràm Cà Mau. Ảnh: BẢO LÂM

Đa dạng sinh học ở Vườn Quốc gia U Minh Hạ

Ngày 20/1/2006, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 112/QĐ-TTg về việc chuyển Khu Bảo tồn thiên nhiên Vồ Dơi và một phần rừng tràm U Minh Hạ thành Vườn Quốc gia (VQG) U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau. VQG U Minh Hạ được thành lập nhằm mục tiêu bảo tồn tái tạo cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học của hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù rừng tràm trên đất than bùn; bảo tồn tái tạo nguồn gien các loài động, thực vật quý hiếm; sử dụng bền vững tài nguyên rừng, các sản phẩm dưới tán rừng, đồng thời phục vụ cho nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái. VQG U Minh Hạ với tổng diện tích 8.286ha, có vị trí nằm tại các xã: Khánh Lâm, Khánh An (huyện U Minh) và các xã: Trần Hợi, Khánh Bình Tây Bắc (huyện Trần Văn Thời). Vườn được quy hoạch với 3 phân khu chức năng chính: Phân khu bảo tồn hệ sinh thái rừng trên đất than bùn 2.570ha; phân khu phục hồi và sử dụng bền vững hệ sinh thái rừng ngập nước 4.961ha và phân khu dịch vụ hành chính 755ha. Ngoài ra, Vườn còn có hơn 25.000ha vùng đệm thuộc các lâm ngư trường: U Minh 1, 3; Lâm ngư trường Trần Văn Thời, Trại giam K1 Cái Tàu và Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng rừng ngập Minh Hải.

Tính đa dạng sinh học ở khu vực VQG U Minh Hạ rất đa dạng và phong phú: Hệ thực vật có 78 loài cây, trong đó có 11 loài cây lấy gỗ, với 65 chi và 36 họ thực vật khác nhau… Thành phần loài trong rừng tràm chủ yếu là: Cây gỗ (tràm, bùi, trâm khế, móp, trâm sẻ…);  cây bụi (mua lông, mật cật gai, bòng bong, dầu dấu ba lá, bí bái…); thảm tươi (sậy, năng, dây choại, dớn, mây móc, rau dừa, nắp nước…). Về hệ động vật, lớp thú có 23 loài,12 họ và 7 bộ (nai, heo rừng, rái cá, khỉ, chồn đèn, sóc…), đặc biệt có 10 loài thú và 4 loài chim có tên trong Sách Đỏ; lớp chim có 91 loài, 33 họ và 15 bộ (cò trắng, cò bợ, cò ngàng, còng cọc, chim vạc, cúm núm, sếu đen, diệc xám, khoang cổ, sen ốc, trích cồ, diệc lửa, chim sen, chàng bè…); lớp bò sát có 36 loài, 16 họ và 3 bộ (rắn hổ đất, kỳ đà, cá sấu, tê tê, rắn nước…); lớp lưỡng cư có 11 loài, 5 họ và 2 bộ… (theo: Quy hoạch môi trường tỉnh Cà Mau đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020).

Than bùn rừng tràm U Minh Hạ là “than bùn lộ thiên dạng vỉa”, được hình thành từ lâu đời trong điều kiện ngập nước yếm khí cùng với các biến đổi địa chất tạo nên (ngoài ra còn có “than bùn lòng sông cổ” vùi sâu dưới những dòng sông cổ)… Năm 1978, diện tích đất than bùn ở khu vực U Minh Hạ là 32.000ha với trữ lượng khoảng 75 triệu m3 than bùn, đến năm 1989 diện tích đất than bùn còn lại khoảng 20.000ha và đến năm 2010 diện tích chỉ còn 9.918ha. Lớp than bùn có độ dày 0,3-1,2 m (có nơi dày đến 2 - 2,5m). Khu vực rừng tràm nguyên sinh Vồ Dơi thuộc khu vực U Minh Hạ với diện tích tập trung 5.640ha, trữ lượng là 14,1 triệu tấn…

Cần điều tra, đánh giá để có giải pháp tổng thể bảo tồn và phát triển

Sự suy giảm thảm rừng tràm ở Cà Mau, nguyên nhân chủ yếu là: Do chiến tranh hóa học của quân đội Mỹ rải thảm chất độc hóa học dioxin để phát quang thảm rừng tràm U Minh; do quá trình khai thác gỗ, củi rừng tràm của người dân trước đây; do khai hoang phá rừng tràm lấy diện tích đất để canh tác nông nghiệp và đặc biệt là do nạn cháy rừng tràm vào mùa khô khi lập địa, rừng bị khô kiệt hàng năm gây ra… đã làm cho thảm rừng bị suy giảm về quy mô diện tích, về chất lượng và tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng tràm. Cháy rừng tràm vào mùa khô đã trở thành một thảm họa sinh thái ở Cà Mau. Khi xảy ra cháy rừng, lửa lướt nhanh trên các lớp thực bì khô hạn, các lớp bổi dày và lá cây rơi rụng bốc lửa nhanh chóng và lan rộng ra toàn khu vực, rất khó khăn ứng cứu kịp thời. Lửa cháy ngầm sâu vào lớp than bùn khô hạn và cháy ngấm sâu trong lớp than bùn nguyên sinh, gây ra sụp lở đất và đổ rạt cây rừng, làm hủy diệt thảm khốc rừng tràm và các loài động vật sống dưới tán rừng, gây vô cùng khó khăn đối với công tác dập lửa và vấn đề lan truyền phèn diễn ra rất mãnh liệt sau cháy… Cháy rừng tràm vào mùa khô là nguy cơ nghiêm trọng nhất hủy diệt hệ sinh thái rừng tràm ở Cà Mau.

Trước thực trạng này, ngành chức năng cần tiến hành điều tra, đánh giá, kiểm kê đất ngập nước hệ sinh thái rừng tràm của Vườn; khoanh vùng đánh giá vùng rừng đặc dụng Vồ Dơi, vùng đệm VQG, vùng kinh tế xung quanh khu bảo tồn… để có các giải pháp tổng thể bảo tồn và phát triển hệ sinh thái rừng tràm Cà Mau, nhằm mục tiêu bảo tồn tái tạo cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học của hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù rừng tràm trên đất than bùn; bảo tồn tái tạo nguồn gien các loài động, thực vật quý hiếm; sử dụng bền vững tài nguyên rừng, các sản phẩm dưới tán rừng, đồng thời phục vụ cho nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái.

Thực hiện công tác điều chế rừng theo hướng tiếp cận sinh thái để bảo đảm cân bằng môi trường chống hạn vào mùa khô đối với hệ sinh thái rừng tràm. Hạn chế việc đào đắp kênh thủy lợi mật độ cao làm chia cắt thảm rừng tràm, làm giảm mực nước vào mùa khô và làm giảm không gian trú ngụ hữu hiệu cho các loài động vật quý hiếm và các động vật sống trong thảm rừng tràm. Trên cơ sở nghiên cứu tính toán cân bằng nước mùa kiệt của hệ sinh thái rừng tràm VQG U Minh Hạ để đầu tư xây dựng hệ thống hồ sinh thái, đảm bảo lưu trữ nước mùa mưa và cung cấp đủ nước dùng cho phòng cháy, chữa cháy rừng và thảm rừng tràm vào mùa khô hạn và cung cấp nước cho canh tác nông nghiệp và dân sinh trong khu vực...

Tăng cường xây dựng lực lượng kiểm lâm đủ năng lực và chủ động trong các hoạt động bảo vệ rừng và các hệ sinh thái trong khu vực, đặc biệt là công tác phòng chống cháy rừng vào mùa khô, xử lý triệt để các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Tăng cường mạnh mẽ công tác xã hội hóa trong bảo vệ và phát triển rừng đối với các khu vực phát triển lâm nghiệp xã hội, các cộng đồng dân cư bảo vệ rừng, bảo vệ hệ sinh thái. Đặc biệt, tăng cường công tác truyền thông giáo dục môi trường trong toàn xã hội để bảo vệ hữu hiệu hệ sinh thái rừng tràm ở Cà Mau.

Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng cho các cấp chính quyền và các ngành chức năng thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ môi trường, Công ước Quốc tế về đất ngập nước Ramsar, Nghị định số 66/2019/NĐ-CP của Chính phủ về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước, Quyết định 1156/QĐ-UBND ngày 14/8/2013 của UBND tỉnh về Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng tỉnh Cà Mau đến năm 2020... nhằm tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước về bảo vệ môi trường đối với hệ sinh thái đất ngập nước nói chung và hệ sinh thái rừng tràm ở Cà Mau nói riêng. Tập trung nghiên cứu tài nguyên than bùn phục vụ cho ứng dụng nông nghiệp để nâng cao hiệu quả sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá này cho phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l