Chuyển đến nội dung chính

Ứng phó biến đổi khí hậu: Kiến nghị mở rộng quyền quản lý rừng cho các HTX

 

Thay vì giao việc quản lý rừng cho đơn vị cộng đồng như thôn, xóm tại các địa phương, việc giao cho các hợp tác xã lâm nghiệp nhiệm vụ quản lý, phát triển rừng được kỳ vọng sẽ giúp hạn chế và ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng, trực tiếp giảm thiểu những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.

Hiện trường một vụ phá rừng ở Tây Nguyên. Ảnh: BNN

Phát triển mô hình có khả năng thích ứng

Theo đánh giá của tổ chức Germanwatch, liên tiếp trong nhiều năm trở lại đây, Việt Nam là 1 trong 10 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn, xói lở đất ven biển kèm theo các diễn biến thời tiết, khí hậu cực đoan không theo quy luật thông thường.

Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (VCA) - ông Nguyễn Ngọc Bảo nhìn nhận, trong thời gian qua, biến đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng tiêu cực và nặng nề đến đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế, nhất là lĩnh vực nông nghiệp trên phạm vi cả nước mà còn gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Thực tế này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục xây dựng và triển khai các biện pháp phòng tránh thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro và thiệt hại cũng như phát triển và nhân rộng các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái và cộng đồng của khu vực hợp tác xã.

Theo đó để thích ứng với biến đổi khí hậu, ông Nguyễn Văn Tiến - Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Ban Kinh tế Trung ương) cho rằng, khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã tới đây cần khuyến khích sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, giảm nhẹ biến đổi khí hậu thông qua sử dụng tiết kiệm nguồn năng lượng hiện có, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới quy trình sản xuất, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên đất, tài nguyên nước, góp phần giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao diện tích, chất lượng rừng làm tăng khả năng hấp thụ các khí nhà kính. Đồng thời quản lý chất thải chất thải, vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu, chất thải trong chăn nuôi, đốt rơm rạ sau thu hoạch lúa.

Đáng chú ý, khu vực hợp tác xã cũng cần điều chỉnh, lồng ghép nội dung phòng ngừa, ứng phó thiên tai vào kế hoạch, chiến lược phát triển để giảm thiểu rủi ro thiên tai, thích ứng với đặc điểm của từng vùng, miền, nhất là vùng ven biển, khu vực đông dân cư và xu hướng biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Ngoài ra cần phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới thích ứng với biến đổi khí hậu cả về số lượng thành viên và quy mô hoạt động, phát huy các giá trị lợi ích chia sẻ, tổ chức quản trị theo hướng phát triển bền vững.

Giảm thiểu phá rừng vì đói nghèo

Liên quan đến hoạt động quản lý và phát triển rừng hiện nay, ông Hoàng Văn Thường - Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Hợp tác xã Cao Kỳ (huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn) đề xuất mở rộng, giao lại việc quản lý rừng cho các hợp tác xã thay vì giao việc quản lý rừng cho các đơn vị cộng đồng thôn, xóm như hiện nay. Bởi tại nhiều địa phương có diện tích rừng lớn hiện nay, các hợp tác xã lâm nghiệp thường là đơn vị trực tiếp phát triển sản xuất và nhờ đó vừa giúp bảo vệ rừng mà còn phát triển, mở rộng diện tích rừng, đặc biệt là khu vực rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.

Đáng chú ý là việc giao quyền quản lý, phát triển rừng cho các hợp tác xã sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế rừng, tạo ra giá trị cao và giúp người bảo vệ rừng có nguồn thu nhập, từ đây giảm thiểu tình trạng chặt phá, khai thác bừa bãi vì đói nghèo, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ rừng, tố cáo ngăn chặn lâm tặc. Ông Thương cho rằng, việc bảo vệ, phát triển rừng thông qua nâng cao vai trò của các hợp tác xã rất quan trọng trong việc biến đổi khí hậu. Lấy ví dụ với 200 thành viên như hiện nay và mỗi thành viên được giao quản lý 5ha rừng, chỉ riêng Hợp tác xã Cao Kỳ có thể quản lý và phát triển 1.000ha rừng, mang lại giá trị sinh thái rất lớn.

Trong khi đó bà Triệu Thị Oanh - Giám đốc Hợp tác xã dược liệu cổ truyền H2O Việt Nam (TP.Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình) cũng kiến nghị cần siết chặt các quy định quản lý hiện nay về khai thác dược liệu tự nhiên nhằm loại bỏ tình trạng khai thác tận diệt vốn đang tác động trực tiếp đến hệ sinh thái rừng.

CẨM HÀ

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l