Chuyển đến nội dung chính

Tổng cục Lâm nghiệp nói gì về hồ tiêu, cà phê... được tính độ che phủ rừng?

 Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT) khẳng định, cây hồ tiêu, cà phê không được tính vào tỷ lệ che phủ rừng, còn cao su nếu được trồng vào đất quy hoạch lâm nghiệp mới được tính.

Rừng tự nhiên xã Trà Nú, H.Bắc Trà My (Quảng Nam), bị chặt phá tháng 9.2019 /// Ảnh Mạnh Cường
Rừng tự nhiên xã Trà Nú, H.Bắc Trà My (Quảng Nam), bị chặt phá tháng 9.2019
ẢNH MẠNH CƯỜNG
Mới đây, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT) đã có văn bản báo cáo về độ che phủ rừng 2011 - 2019, do Tổng cục trưởng Nguyễn Quốc Trị ký ban hành.
Đáng chú ý, trong báo cáo này, Tổng cục Lâm nghiệp giải thích liên quan đến ý kiến mà trước đó (ngày 5.11) đại biểu Quốc hội Ksor H’Bơ Khăp (Gia Lai) tranh luận với Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường về diện tích rừng tại phiên chất vấn của Quốc hội. Theo bà Ksor H’Bơ Khăp, hiện nay, cây cao su, cây cà phê, cây tiêu cũng được tính vào tỷ lệ che phủ rừng.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, quy định về rừng được quy định tại khoản 1 điều 3 luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và khoản 3 điều 2 luật Lâm nghiệp năm 2017: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liền vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên".
Về tiêu chí xác định rừng, trước khi luật Lâm nghiệp có hiệu lực, Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10.6.2009; và nội dung quy định tại điều 4, 5, 6, 7, 8 của Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16.11.2018 của Chính phủ hiện nay cũng đã quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Lâm nghiệp. Theo đó, cây hồ tiêu, cây cà phê không được tính tỷ lệ che phủ rừng. Cây cao su là cây đa mục tiêu, nếu trồng trên diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp mới được tính vào tỷ lệ che phủ rừng.

Vì sao tỷ lệ che phủ rừng tăng?

Theo Tổng cục Lâm nghiệp, kết quả tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc đến 31.12.2016 của 60 tỉnh, 550 huyện, 6.427 xã có rừng đã xác định được tổng số chủ rừng nhóm 1 là hơn 1,1 triệu chủ rừng; chủ rừng nhóm 2 là 2.127. Tổng số lô kiểm kê rừng là hơn 7,1 triệu lô; tổng diện tích rừng cả nước là hơn 14,3 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên hơn 10 triệu ha và rừng trồng là hơn 4,1 triệu ha. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,19%.
Kết quả theo dõi diễn biến rừng được cập nhật đến từng lô rừng, của các chủ rừng, theo đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh được cập nhật từ giai đoạn 2011 - 2019 như sau:
Tổng cục Lâm nghiệp nói gì về hồ tiêu, cà phê... được tính độ che phủ rừng? - ảnh 1
Theo đó, từ năm 2011 - 2019, diện tích rừng tăng hơn 1 triệu đồng, từ hơn 13,5 triệu ha năm 2011 lên hơn 14,6 triệu ha vào năm 2019, trung bình mỗi năm tăng 121.684 ha rừng.
Tỷ lệ che phủ rừng tăng tương ứng là 2,19%, từ 39,7% năm 2011 lên 41,89% vào năm 2019, bình quân mỗi năm tỷ lệ che phủ rừng tăng 0,24%.
Cũng theo thống kê giai đoạn 2011 - 2019, diện tích rừng bị thiệt hại là 22.800 ha (do cháy rừng 13.717 ha, phá rừng 9.073 ha).
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, công tác bảo vệ rừng vẫn còn một số tồn tại như tình trạng phá rừng tự nhiên trái pháp luật tại một số địa phương còn diễn ra, còn điểm nóng về phá rừng.
Nguyên nhân là do tình trạng di dân tự do vẫn còn diễn ra ở một số nơi, người dân phá rừng để lấy đất trồng rừng, chuyển sang trồng cây nông nghiệp, cây công nghiệp; khai thác gỗ có giá trị thương mại cao tại một số khu rừng tự nhiên còn gỗ quý. Chính quyền cơ sở ở một số nơi còn thiếu kiên quyết để ngăn chặn việc phá rừng.
Không đánh đổi rừng tự nhiên để phát triển kinh tế
Dù khẳng định tỷ lệ che phủ rừng là 41,89% năm 2019, rừng tự nhiên được quản lý chặt chẽ và tập trung khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, phục hồi, nhưng Tổng cục Lâm nghiệp cho rằng, chất lượng rừng, nhất là rừng tự nhiên còn suy giảm ở nhiều nơi.
Để phát triển rừng bền vững, hiệu quả trong thời gian tới, Tổng cục Lâm nghiệp kiến nghị Nhà nước tiếp tục quản lý chặt chẽ, bảo vệ toàn bộ diện tích rừng tự nhiên hiện có; tăng cường xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật; kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác, nhất là để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội, thủy điện, không đánh đổi môi trường để phát triển kinh tế trước mắt thiếu bền vững.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l