Chuyển đến nội dung chính

Rừng nguyên sinh còn nguyên vẹn của Việt Nam chỉ còn 0,25%

 Việt Nam đạt 14,6 triệu ha đất có rừng vào năm 2019 với độ che phủ ước đạt gần 42%. Nhưng trên toàn lãnh thổ Việt Nam, những khu rừng nguyên sinh còn nguyên chỉ có 0,25%.

Khám nghiệm hiện trường vụ phá rừng ở Lâm Đồng /// ẢNH: LÂM VIÊN
Khám nghiệm hiện trường vụ phá rừng ở Lâm Đồng
ẢNH: LÂM VIÊN
Tại Hội nghị toàn quốc về công tác quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ năm 2020 tổ chức tại TP.Đà Lạt (Lâm Đồng) trong hai ngày 11 và 12.11, ông Oemar Idoe, Trưởng nhóm các dự án môi trường, biến đổi khí hậu, nông nghiệp về hội nhập kinh tế khu vực (Tổ chức hợp tác phát triển Đức GIZ), nhận định: “Năm 2019, Việt Nam đã đạt 14,6 triệu ha đất có rừng với độ che phủ ước đạt gần 42%. Song trên toàn lãnh thổ quốc gia, những khu rừng nguyên sinh còn nguyên chỉ 0,25%”.
Rừng nguyên sinh còn nguyên vẹn của Việt Nam chỉ còn 0,25%  - ảnh 1

Rừng phòng hộ là rừng tự nhiên tại TK 132 , H.Lạc Dương (Lâm Đồng) bị triệt hạ hàng loạt

ẢNH: LÂM VIÊN

Cũng theo ông Oemar Idoe, điều này phản ánh một thực tế rằng quản lý rừng bền vững và bảo tồn tài sản đa dạng sinh học và các hệ sinh thái cần thêm những nỗ lực và sự quan tâm mạnh mẽ của chính phủ, các cấp, các ngành.
Current Time0:00
/
Duration2:24
Auto

Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường thông tin với quốc hội về diện tích rừng của Việt Nam ngày 3.11.2020

Diện tích rừng phòng hộ là rừng tự nhiên giảm dần

Tổng cục Lâm nghiệp  (Bộ NN-PTNT) cho biết toàn quốc hiện có khoảng 4,64 triệu ha rừng phòng hộ, trong đó có 3,95 triệu ha rừng tự nhiên, 0,69 triệu ha rừng trồng. Tổng diện tích rừng phòng hộ là rừng tự nhiên giảm từ 4,3 triệu ha năm 2010 xuống còn 3,95 triệu ha năm 2019, và diện tích rừng phòng hộ là rừng trồng tăng nhẹ từ 0,61 triệu ha năm 2010 lên 0,69 triệu ha năm 2019.
Rừng nguyên sinh còn nguyên vẹn của Việt Nam chỉ còn 0,25%  - ảnh 2

Hiện trường vụ phá rừng phòng hộ tại TK 132 (Lâm Đồng)

ẢNH: LÂM VIÊN

Tính tới thời điểm hiện tại, dữ liệu về chất lượng rừng phòng hộ rất hạn chế, mới chỉ thể hiện qua công bố hiện trạng rừng sau khi hoàn thành tổng điều tra kiểm kê rừng năm 2016 của Tổng cục Lâm nghiệp. Số liệu này cho thấy diện tích rừng phòng hộ là rừng gỗ tự nhiên giàu và trung bình là trên 1 triệu ha (chiếm 29,8% diện tích rừng phòng hộ là rừng tự nhiên).
Như vậy, có thể thấy chất lượng rừng tự nhiên chưa đạt yêu cầu phòng hộ và ngành lâm nghiệp cũng như toàn xã hội phải đầu tư nhiều hơn để rừng có thể duy trì và phát triển đạt yêu cầu phòng hộ.

Áp lực tăng dân số đe dọa, ảnh hưởng tới phát triển bền vững rừng

Cũng theo Tổng cục Lâm nghiệp, sau 6 năm thực hiện Quyết định số 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng, phê duyệt quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng, mục tiêu từ 2,2 triệu ha đến năm 2020 đạt 2,4 triệu ha. Thế nhưng đến nay mới đạt hơn 2,3 triệu ha với 167 khu rừng đặc dụng gồm: 33 vườn quốc gia, 57 khu bảo tồn thiên nhiên, 14 khu bảo tồn loài/ sinh cảnh, 54 khu bảo vệ cảnh quan và 9 khu thực nghiệm khoa học. Năm 2019 có 61 khu rừng đặc dụng tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, thu hút được 2,5 triệu lượt du khách, doanh thu đạt khoảng 185 tỉ đồng.
Rừng nguyên sinh còn nguyên vẹn của Việt Nam chỉ còn 0,25%  - ảnh 3

Diện tích rừng phòng hộ là rừng tự nhiên đang giảm dần từng năm

ẢNH: LÂM VIÊN

Chính áp lực tăng dân số đang là mối đe dọa, ảnh hưởng tới phát triển bền vững rừng đặc dụng.
Cụ thể, nhu cầu đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, các nhu cầu sử dụng gỗ và khai thác lâm sản ngày càng tăng; làm tăng áp lực chuyển đổi mục đích đất lâm nghiệp sang các loại đất khác và khai thác tài nguyên quá mức hoặc phá rừng bất hợp pháp.
Rừng nguyên sinh còn nguyên vẹn của Việt Nam chỉ còn 0,25%  - ảnh 4

Khám nghiệm hiện trường vụ phá rừng ở Lâm Đồng

ẢNH: LÂM VIÊN

Tình trạng khai thác săn bắt động vật, thực vật quý, hiếm vẫn xảy ra tại các khu rừng đặc dụng và vùng lân cận. Bên cạnh đó, việc xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, đô thị, xây dựng những công trình thủy điện, hồ đập giữ nước ngày càng nhiều dẫn đến tình trạng diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên của các loài động, thực vật rừng phân bố trong các khu rừng đặc dụng.
Mặt khác, diễn biến về biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, thay đổi quy luật thời tiết, làm ảnh hưởng trực tiếp đến các loài sinh vật, gây ra những hiện tượng cháy rừng, sạt lở, ngập lụt đe dọa đến hệ sinh thái rừng.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l