Chuyển đến nội dung chính

Việt Nam mất rừng là “do Mỹ rải hóa chất”

 Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường nói rừng tự nhiên của Việt Nam thiệt hại trong kháng chiến chống Mỹ rất lớn – do đế quốc Mỹ rải 77 triệu lít hóa chất. Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai có tranh luận và đề nghị sẽ là trung thực hơn nếu Bộ trưởng nói mất rừng do quản lý bất cập.

Theo vị ĐBQH đợt thiên tai, lũ lụt vừa qua ở miền Trung, trong rất nhiều nguyên nhân có nguyên nhân chủ quan là con người đang phá huỷ môi trường và cái giá phải trả thực sự quá đắt.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường: Rừng Việt Nam bị Mỹ rải 77 triệu lít hóa chất

Thảo luận tại nghị trường chiều qua, 3/11, phần phát biểu giải trình của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường về độ che phủ rừng, kế hoạch phục hồi diện tích rừng tư nhiên của Việt Nam nhận được sự chú ý rất lớn của các đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước.

Ông Nguyễn Xuân Cường trao đổi lại với các đại biểu đề cập nguyên nhân thiên tai nặng nề vừa qua ở Việt Nam có phần nguy do rất lớn là vì “mất rừng”, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có một số lý giải liên quan.

Theo Bộ trưởng, tổng diện tích rừng hiện nay của Việt Nam là 14,6 triệu hecta, trong đó rừng tự nhiên là 10,3 triệu hecta, rừng trồng là 4,3 triệu hecta.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường khẳng định, có được kết quả này, là sự cố gắng vượt bậc. Theo đó, năm 1990, Việt Nam chỉ có 9 triệu ha rừng, lúc đó hệ số che phủ chỉ 27% mà trong vòng 30 năm, hệ số che phủ đã đạt gần 42% (cao hơn nhiều mức trung bình của thế giới là 29%).

Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp cũng cho hay, về nguyên liệu, trong 4,3 triệu ha rừng trồng, Việt Nam đã sản xuất ra 30 triệu m3 nguyên liệu để xây dựng một ngành kinh tế công nghiệp về lâm nghiệp, 4.600 doanh nghiệp chế biến. Năm nay 2020 có thể xuất khẩu tới 13 tỷ USD lâm sản. Đây là một cố gắng về phát triển vùng nguyên liệu.

Về rừng tự nhiên, Bộ trưởng khẳng định, Đảng, Quốc hội, Chính phủ luôn có chính sách để bà con chăm nuôi, bảo vệ rừng tự nhiên với chế độ ngày càng tăng lên.

“Trước đây chúng ta có chế độ khoán chăm nuôi, bảo vệ rừng tự nhiên 50.000 đồng/ha, bây giờ lên 520.000 đồng/ha nhưng Quốc hội yêu cầu thời gian tới phải nâng lên 1 triệu/ha thì mới bảo đảm từng bước cho chất lượng khu vực 10,3 triệu ha khoanh nuôi bảo vệ rừng tự nhiên phát triển”, ông Cường nói.

Đáng chú ý, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng thừa nhận, về việc giữ rừng tự nhiên, còn một số bất cập, tồn tại.

“Trong 30 năm phát triển, rừng tự nhiên không thể phục hồi như ngày xưa bởi vì trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 77 triệu lít thuốc hóa học đã hủy hoại 2 triệu ha rừng ở miền Trung. Bây giờ phải phục hồi từng bước”, vị lãnh đạo nêu rõ.

Người đứng đầu Bộ Nông nghiệp cũng khẳng định, thời gian tới, chính sách khoán khoanh nuôi, bảo vệ rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng cần được cải thiện, nâng cao mức tiền công khoán để đảm bảo từng bước nâng cao chất lượng khoanh nuôi bảo vệ rừng. Thế giới thừa nhận, tôn trọng các cam kết của Việt Nam phát triển rừng bền vững.

Sẽ là trung thực hơn nếu Bộ trưởng nói mất rừng do quản lý bất cập

Tại phiên thảo luận chiều nay, ngày 4/11, đại biểu Vũ Thị Lưu Mai (đoàn Hà Nội) cũng nêu nhiều con số và nhận định đáng chú ý.

Tranh luận với Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, bà Mai dẫn báo cáo của Chính phủ cho biết, hiện cả nước có 3.400 giấy phép khai thác tài nguyên có tác động đến rừng tự nhiên.

Cùng với đó, tình trạng khai thác trái phép cũng xảy ra nhiều trên địa bàn cả nước, xâm hại diện tích rừng tự nhiên. Báo cáo kiểm toán nêu rõ nhiều sai phạm trong việc cấp phép các dự án khai thác tài nguyên tại Việt Nam.

“Xin trao đổi lại với Bộ trưởng Nông nghiệp ý kiến lý giải diện tích rừng tự nhiên thu hẹp là do “Đế quốc Mỹ rải thảm hoá chất”. Nói như thế không sai nhưng đáng ra sẽ là toàn diện, trung thực, thuyết phục hơn nếu Bộ trưởng phân tích những nguyên nhân từ những bất cập trong việc quản lý từ Trung ương đến địa phương có rừng”, ĐBQH Vũ Thị Lưu Mai thẳng thắn.

Ngoài ra, vị đại biểu cũng cho rằng, cần phải nhìn nhận việc trồng rừng thay thế chỉ là biện pháp khiên cưỡng vì rừng tự nhiên có những đặc điểm ưu việt mà rừng trồng không có được.

“Giữ được một héc-ta rừng tự nhiên, giá trị còn cao hơn 100 héc-ta rừng trồng mới”, nữ ĐBQH nói.

Điểm lại hàng loạt hậu quả nặng nề của đợt thiên tai vừa qua, bà Lưu Mai nhấn mạnh, tất cả chúng ta đều bàng hoàng, đau xót vì sự ra đi của nhiều cán bộ, chiến sĩ và người dân vì sự giận dữ của tự nhiên.

Theo bà Mai, trong rất nhiều nguyên nhân có nguyên nhân chủ quan là con người đang phá huỷ môi trường và cái giá phải trả thực sự quá đắt.

“Trong thiên tai, chúng ta thấy được tình người, tình nghĩa quân dân nhưng cũng thấy được những lỗ hổng cần kịp thời chỉnh sửa trong chủ trương, chính sách phát triển”, vị ĐBQH nhận xét.

Trước đó, hôm qua, ĐBQH Nguyễn Lân Hiếu (đoàn An Giang) cũng bàn về vấn đề này. Theo ông Hiếu, bão thì năm nào cũng có nhưng tại sao bão năm nay lại cứ nặng nề hơn năm trước, mức nước lụt trên tường nhà mỗi đợt bão về lại ngày càng cao hơn.

ĐBQH Nguyễn Lân Hiếu nói, chúng ta hô hào trồng rừng nhưng vẫn cho phép những đại dự án khởi công ngay lõi rừng hay thủy điện cóc vẫn tiếp tục được duy trì hoạt động hoặc thậm chí còn được cấp giấy phép mới. Nếu vậy sẽ lại còn những trận lụt lịch sử, những cột mốc tang thương nữa phải ghi nhận.

Vị đại biểu cũng cho hay, thừa nhận sai lầm và thay đổi trong tư duy là việc còn khó. Ông ví dụ, mỗi người trong đầu vẫn quan niệm gỗ quý tự nhiên là đẹp hơn gỗ công nghiệp, vẫn khoe với khách đến thăm cái cầu thang, cái tủ, cái bàn làm từ giáng hương hay lim sến táu. Rồi tự huyễn hoặc là gỗ của mình nhập khẩu từ Lào, Miến không phải phá rừng đặc dụng Việt Nam.

“Bảo vệ môi trường theo tôi phải bắt đầu từ tư duy, mà tư duy là phải nhờ giáo dục mà có”, ĐBQH Nguyễn Lân Hiếu nhấn mạnh đồng thời khẳng định, không thể dùng lòng tốt để khắc phục hậu quả của bão lũ từ năm này qua năm khác.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l