Chuyển đến nội dung chính

Thấm thía cái giá phải trả do mất rừng tự nhiên

 Thấm thía cái giá phải trả do mất rừng tự nhiên

(PL)- Các đại biểu Quốc hội cho rằng thủy điện làm mất rừng là tác nhân khiến lũ dữ hơn và tàn phá nặng nề hơn.

Ngày 3-11, Quốc hội bắt đầu ba ngày thảo luận tại hội trường về tình hình kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước.

Về những đợt thiên tai vừa qua, đại biểu (ĐB) Hoàng Đức Thắng (Quảng Trị) cho rằng ngoài nguyên nhân biến đổi khí hậu thì điều chắc chắn là chúng ta đã mất quá nhiều rừng tự nhiên. Hủy hoại rừng không còn là câu chuyện mới, xong nhìn lại lũ lụt, sạt lở diễn ra tại miền Trung những ngày qua “càng thấy thấm thía cái giá phải trả cho sự tàn phá này”.

Theo ĐB Quảng Trị, trong hơn 20 năm qua, các dự án thủy điện nhỏ ồ ạt được xây dựng với những quy mô khác nhau, cùng với mưu sinh của người dân và nhu cầu phát triển hạ tầng dẫn đến việc đã có hàng chục ngàn hecta rừng đầu nguồn mất đi…

Thấm thía cái giá phải trả do mất rừng tự nhiên - ảnh 1
ĐBQH Phan Thái Bình phát biểu về trồng rừng. Ảnh: QH

“Chỉ tiêu phấn đấu về độ che phủ rừng hằng năm đều tăng nhưng điều đó không nói được nhiều về chất lượng, khả năng giữ đất, giữ nước, sức chống chịu thiên tai khi mà diện tích rừng tự nhiên, rừng phòng hộ ngày một giảm đi” - ĐB Thắng nói và cho rằng phần lớn các vùng bị lũ dữ, sạt lở đất ngoài những yếu tố về địa chất thì phần lớn xảy ra ở những nơi đồi núi trọc, rừng nghèo, tỉ lệ rừng giàu tự nhiên rất thấp…

Ông Thắng cũng cho rằng thủy điện có thể không làm tăng lũ nhưng thủy điện làm mất rừng là tác nhân khiến lũ dữ hơn và tàn phá nặng nề hơn.

Ông Thắng đề nghị Chính phủ kiên quyết chỉ đạo tiếp tục tổng rà soát, đánh giá đầy đủ thực trạng rừng hiện nay, đặc biệt về chất lượng rừng, khả năng thực tế về độ che phủ, tình hình phát triển các dự án thủy điện nhỏ, nhất là khu vực miền Trung - Tây Nguyên, từ đó có các giải pháp căn cơ và lâu dài…

Ông Thắng cũng đề nghị Quốc hội cần tăng cường các cuộc giám sát tối cao để có các quyết sách mạnh mẽ về mục tiêu, giải pháp, nhất là kiên quyết dừng, loại bỏ các dự án, công trình không hiệu quả, không đảm bảo an toàn, làm ảnh hưởng đến rừng, nhất là rừng đầu nguồn, rừng tự nhiên, tác động đến chế độ dòng chảy tự nhiên, môi trường và đời sống người dân.

ĐB Phan Thái Bình (Quảng Nam) cũng tha thiết đề nghị “quan tâm xem lại việc trồng rừng thay thế”. Ông Bình cho rằng cần đảm bảo các nguyên tắc về vị trí trồng; nguyên tắc phòng hộ và đặc biệt là loại cây trồng đảm bảo nguyên tắc phòng hộ. “Thay vì trồng cây bản địa, những cây gỗ lớn, chúng ta lại trồng cây keo, cây khác thì phòng hộ không tốt” - ông Bình nói.

Tranh luận với bộ trưởng Bộ NN&PTNT, ĐB Nguyễn Lân Hiếu (An Giang) cho rằng trên thực tế, rừng tự nhiên ngày càng bị xâm hại. “Chúng ta hô hào trồng rừng nhưng vẫn cho phép những đại dự án khởi công trong lõi rừng hay thủy điện cóc tiếp tục được duy trì hoạt động, thậm chí được cấp phép mới” - ĐB Hiếu nhấn mạnh và cảnh báo “nếu không thay đổi thì thảm họa sẽ xảy ra bất cứ lúc nào trên cả dải đất hình chữ S”.

Rừng tự nhiên khó phục hồi như xưa

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường khẳng định tổng diện tích rừng hiện nay (14,6 triệu ha) là “sự cố gắng vượt bậc của cả hệ thống chính trị và toàn dân”. “Năm 1990, Việt Nam chỉ có 9 triệu ha rừng, lúc đó hệ số che phủ chỉ 27%” - ông Cường so sánh.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cũng khẳng định trong 30 năm phát triển, rừng tự nhiên không thể phục hồi như ngày xưa. Bởi giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Mỹ đã rải 77 triệu lít thuốc hóa học, hủy hoại 2 triệu ha rừng miền Trung. “Bây giờ phục hồi rừng tự nhiên cũng phải có thời gian từng bước” - ông Cường nói. 

Đ.MINH - C.LUẬN - T.PHÚ

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l