Chuyển đến nội dung chính

Những nguyên nhân nào gây ra lũ lụt và sạt lở đất?

 

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng chỉ ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan do con người gây ra lũ lụt và sạt lở...

 

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng - Ảnh: Quochoi.vn

QUANG TRUNG

07/11/2020 20:17

Trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội chiều 6/11, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã chỉ ra một số nguyên nhân chủ quan và giải pháp ứng phó với thiên tai đang được dư luận quan tâm thời gian gần đây. 

Phó Thủ tướng cho biết, hiện nay tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, thiên tai dị thường, đặc biệt là bão, lũ, sạt lở đất đang là thách thức lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó, châu Á là khu vực chịu thiệt hại nặng nề nhất. Mưa lũ và sạt lở đất đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản ở nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines... và cả Việt Nam. Ngoài yếu tố khách quan, Phó Thủ tướng chỉ ra những nguyên nhân chủ quan do con người.

Thứ nhất là thực trạng rừng. Phó Thủ tướng cho biết, năm 1945, Việt Nam có tỷ lệ che phủ rừng 43%, nhưng đến năm 1995 chỉ còn 28% do chiến tranh và hoạt động phát triển kinh tế sau đó. Đến nay, dù độ che phủ rừng của Việt Nam đạt trên 41%, đứng thứ 50/193 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhưng chất lượng rừng còn thấp do mới được phục hồi. 

Thứ hai là tình trạng phá rừng để trồng cây công nghiệp, làm nương rẫy, phát triển sản xuất và cả phá rừng lấy gỗ vẫn chưa được ngăn chặn triệt để.

"Việc trồng rừng thay thế và các dự án sử dụng đất rừng để phát triển kinh tế - xã hội chưa được kiểm soát chặt chẽ và chưa được thực hiện nghiêm. Từ đó đã ảnh hưởng đến việc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, giữ nước ngọt và cũng là một nhân tố rất quan trọng gây sạt lở đất khi có mưa lũ xảy ra", Phó Thủ tướng chỉ ra.

Thứ ba là việc đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực miền núi làm thay đổi địa hình, tác động đến độ ổn định kết cấu địa chất và dễ gây sạt lở đất. Cùng với đó, việc xây dựng các công trình giao thông, công trình xây dựng khác cũng gây cản trở lũ và làm cho lũ dâng cao.

Cùng với đó, việc xây dựng các công trình nhà ở, khu dân cư, bệnh viện, trường học, cơ sở tại khu vực miền núi không được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, đặc biệt là về yếu tố địa chất.

"Đây là một nhân tố tác động làm sạt lở đất, đá khi có mưa lũ xảy ra", Phó Thủ tướng cho biết.

Thứ tư, việc xây dựng các công trình hồ, đập thủy lợi, thủy điện nếu không được kiểm soát chặt chẽ, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đánh giá tác động môi trường, quản lý quá trình đầu tư xây dựng và khai thác, vận hành sẽ có tác động rất lớn đến mưa lũ, sạt lở đất và đe dọa đến an toàn của hạ du. 

Hiện nay, Việt Nam có trên 7.500 hồ, đập thủy lợi và thủy điện, đã đưa vào vận hành khai thác với tổng dung tích là 70 tỷ m3 nước, đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng an ninh nguồn nước. Các thủy điện nhỏ và vừa cũng tham gia cắt lũ và điều tiết nước trong mùa cạn. Bên cạnh đó, thủy điện cũng mang lại nguồn điện  sạch, giá rẻ và là một nguồn tài nguyên quan trọng. 

Tuy nhiên, theo Phó Thủ tướng, việc xây dựng các công trình hồ, đập thủy điện, thủy lợi có tác động tiêu cực đến môi trường và sự ổn định của kết cấu đất đá nên cũng có thể tác động gây ra sạt lở đất.

Nói về các giải pháp sắp tới để ứng phó với thiên tai, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho biết về nhiệm vụ trước mắt, Chính phủ đã có báo cáo gửi Quốc hội. 

Về các nhiệm vụ dài hạn, cần phải tiếp tục hoàn thiện thể chế liên quan đến phòng, chống thiên tai trong đó tập trung xây dựng Nghị định hướng dẫn Luật Phòng, chống thiên tai, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho biết.

Thứ hai, cần phải rà soát lại kịch bản biến đổi khí hậu làm cơ sở để xây dựng các phương án ứng phó với thiên tai, bão lũ gây sạt lở đất, sạt lở bờ sông, bờ biển, hạn mặn; tập trung xây dựng chiến lược phòng, chống thiên tai giai đoạn 2021-2030;

Thứ ba, xây dựng các bản đồ cảnh báo khu vực có nguy cơ lũ ống, lũ quét, sạt lở đất nguy hiểm với tỷ lệ thích hợp. Cùng với đó, phải xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, kịp thời để sơ tán khẩn cấp người dân trước khi có sạt lở đất, lũ quét như kinh nghiệm của Nhật Bản và Mỹ.

Thứ tư, kiểm soát chặt chẽ quá trình đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội gắn với ứng phó biến đổi khí hậu, từ khâu quy hoạch, kế hoạch, lập dự án, quản lý quá trình đầu tư xây dựng đến khâu vận hành, khai thác, sử dụng, v.v. 

Thứ năm, sửa chữa, nâng cấp, đảm bảo an toàn các công trình hồ, đập, đê điều; đầu tư chống sạt lở bờ sông, bờ biển; rà soát, sửa chữa, cải tạo các công trình giao thông gây cản trở thoát lũ; đầu tư xây dựng, nâng cấp các khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão để đảm bảo an toàn cho tàu thuyền khi có bão.

Thứ sáu, tiếp tục đầu tư chương trình nhà ở vùng lũ của 14 tỉnh miền Trung duyên hải từ Thanh Hóa cho đến Bình Thuận. Hiện nay, Bình Thuận không tham gia thì đến Ninh Thuận. 

"Chương trình này đã thực hiện và đạt được nhiều kết quả nhưng hiện nay hỗ trợ còn rất ít. Chúng tôi mong muốn Quốc hội bố trí vốn đầu tư công trung hạn để hỗ trợ cao hơn cho khu vực này", Phó Thủ tướng cho biết.

Thứ bảy, nâng cao năng lực của các lực lượng tham gia phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn, trong đó tăng cường tính chuyên nghiệp từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt là cơ sở. Quán triệt nghiêm túc phương châm 4 tại chỗ trong phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn.

Thứ tám, cần lồng ghép đầu tư trong công tác phòng, chống thiên tai trong các chương trình, dự án đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương.

Thứ chín, Chính phủ sẽ từng bước trình Quốc hội về nhu cầu chi cho công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn để bảo vệ người dân. 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Gỗ xá xị dùng trong phong thủy – Cách giữ mùi thơm lâu dài – hướng dẫn nhận biết

GỖ XÁ XỊ LÀ GÌ? Gỗ xá xị hay còn được gọi là gỗ gù hương, thuộc hàng gỗ cao cấp, đắt tiền thường được dân chơi gỗ tại Việt Nam săn tìm. Gỗ xá xị thường được sử dụng trong vật phong thủy giúp cho môi trường xung quanh thêm sang trọng và đẳng cấp. XEM:  https://phongthuygo.com/go-xa-xi-dung-trong-phong-thuy-cach-giu-mui-thom-lau-dai-huong-dan-nhan-biet/ Gỗ xá xị là loại cây sinh sống trong rừng sâu, có màu đỏ thẫm, đường vân gỗ tự nhiên uốn lượn xoáy sâu vào phần lõi tạo ra những đường xoắn ốc kỳ diệu. Hình dạng những khối gỗ cũng rất đa dạng nên ứng dụng được nhiều sản phẩm có giá trị cao. Gỗ xa xị đỏ đặc biệt hơn những loại gỗ khác bởi màu đỏ tươi cảm giác mang lại sự may mắn. Đây là lý do tại sao người ta lựa chọn loại gỗ này cho những sản phẩm tượng phong thủy đắt tiền. Tinh dầu gỗ xá xị còn giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của con người, tinh thần sảng khoái, minh mẫn. Một số nơi sử dụng gỗ xá xị như một bài thuốc dân gian chữa bện phong hàn, bệnh tiêu hóa ở trẻ nhỏ, c

Tìm hiểu chi tiết về gỗ Trắc và ý nghĩa trong đời sống, phong thủy

GỖ TRẮC Gỗ trắc hay còn được gọi với cái tên khá Nam Bộ là gỗ Cẩm Lai, nó được coi là cây gỗ đặc trưng của vùng Đông Nam Á. Gỗ trắc sinh trưởng và phát triển tương đối chậm nên sản lượng gỗ không nhiều vì thế mà giá thành cũng khá cao không phải ai cũng sở hữu được. Cây gỗ trắc khá lớn, cây trưởng thành tới kỳ thu hoạch thường cao trung bình 25m. Thân cây to và chắc chắn với đường kính lên tới 1m. Là loại cây cổ thụ lâu năm nhưng vỏ cây gỗ trắc lại không bị sần sùi hay tróc vẩy mà ngược lại rất nhẵn và có màu nâu xám. Gỗ trắc ưa sáng nên những tán lá nhanh chóng vươn lên hứng nắng mặt trời, lá có màu xanh rêu nhạt. Họ nhà gỗ trắc không sinh sống thành một khu vực chung mà sống rải rác cách nhau một khoảng khá xa. Độ cao mà cây sinh sống không quá 500m, thích hợp với những vùng đồi núi Việt Nam. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-trac-va-y-nghia-trong-doi-song-phong-thuy/ Gỗ trắc là cây gỗ thuốc nhóm I trong nhóm gỗ quý của Việt Nam, phân bố chủ yếu ở vùng Đ

Tìm hiểu về “Tứ Thiết Mộc” bao gồm những loại gỗ nào

xem:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-ve-tu-thiet-moc-bao-gom-nhung-loai-go-nao/ “Tứ thiết mộc” hay còn gọi là 4 loại gỗ có bền chắc và độ cứng rất cao. 4 loại gỗ tứ thiết của Việt Nam bao gồm: đinh, lim, sến, táu. Đây đều là 4 loại gỗ quý thậm chí là rất quý trên thị trường có giá rất cao. Các loại gỗ này thường dùng trong việc chế tác những sản phẩm cao cấp, có độ bền với thời gian, đặc biệt là làm nhà gỗ bao gồm: đền thờ, nhà thờ tổ, chùa chiền… Tên gọi chung các loại gỗ quý rất cứng (ví như sắt). Đinh, lim, sến, táu là hạng thiết mộc. Dùng toàn thiết mộc để làm cột, kèo. Tìm hiểu chi tiết về 04 loại gỗ trên: Gỗ Đinh ,  Gỗ Lim ,  Gỗ Sến ,  gỗ táu