Chuyển đến nội dung chính

Người Tày – Nùng lo nhà sàn cổ “tuyệt chủng”

 

Người Tày – Nùng lo nhà sàn cổ “tuyệt chủng”

Độc đáo nhà sàn cổ

Nghệ nhân Nông Lưu Hoằng, người dân tộc Nùng ở Trùng Khánh (Cao Bằng) cho biết, qua hàng nghìn năm đúc rút kinh nghiệm thì người Tày – Nùng mới hình thành kiểu kiến trúc nhà sàn độc đáo như hiện nay. Thông thường, kiến trúc nhà sàn của đồng bào dân tộc vùng biên giới này tồn tại bốn kiểu khác nhau.

Nhà “lều”, là loại nhà có kết cấu đơn giản và sơ khai nhất. Nhà “quan ma” là loại nhà sàn thường có bốn gian với đặc điểm cột được chôn sâu xuống đất, được biến thể từ kiểu nhà “lều” nhằm bảo vệ con người và vật nuôi khỏi thú dữ. Nhà “cai tư” là kiểu nhà biến thể tiếp của nhà “quan ma” với đặc điểm thường có năm gian (ba gian chính và hai gian trái), cột nhà được kê bằng đá tảng. Cuối cùng là nhà “con thong” là loại nhà phổ biến nhất hiện nay.

Theo cụ Hoằng, bốn kiểu nhà sàn này của dân tộc Tày gần giống với kiến trúc nhà sàn dân tộc Nùng. Tuy nhiên, có sự khác nhau về quan niệm, phong tục tập quán và thói quen sinh hoạt của hai dân tộc.

“Một đặc điểm dễ nhận thấy là nhà sàn có diện tích sử dụng rộng rãi, được chia thành các gian và mỗi gian đều có chức năng riêng: Gian giữa dùng làm bàn thờ. Các gian phụ được dùng sinh hoạt, để đồ đạc. Cầu thang lên làm bằng gỗ và thường có chín bậc, mỗi bậc tượng trưng cho một vía của người phụ nữ. Gầm sàn là nơi để dụng cụ sản xuất, nhốt gia súc, nghệ nhân Nông Lưu Hoằng cho hay.

Trong ngôi nhà sàn, từ cách bố trí không gian thờ cúng tổ tiên, nơi tiếp khách, bếp núc cho tới buồng ngủ của mỗi thành viên trong gia đình đều thể hiện rõ phong tục, tập quán, nền nếp của đồng bào Tày – Nùng. Việc dựng một căn nhà sàn không hề đơn giản. Ngoài lượng gỗ phải gom trong nhiều năm, thì các khâu xây dựng, kiến trúc phải nhờ người kinh nghiệm lâu năm.

Bà Nông Thị Huyên, Phó Chủ tịch UBND xã Thông Huề cho biết, khi dân số ngày càng tăng kéo theo nhu cầu đất đai, nhà ở. Trong khi đó, gỗ trong rừng đã trở nên khan hiếm nên mới có chuyện nhiều người đi săn nhà sàn cổ ở các vùng lân cận.

Theo bà Huyên, cách đây vài năm ở địa phương xuất hiện những đoàn người chuyên đi vận chuyển bộ gỗ nhà sàn cũ. Họ thuộc nhóm chuyên mua nhà sàn cũ – cổ. Trung bình một bộ gỗ nhà sàn cũ có giá từ 40 đến 80 triệu tùy thuộc theo từng chất lượng. Còn những gia đình có nhà sàn cổ cực đẹp thì giá bán đến vài trăm triệu.

Hình ảnh nhà sàn ngày càng vắng bóng

Nguy cơ biến mất

Ông Mông Văn Sau (75 tuổi) ở huyện Quảng Hòa từng tham gia đoàn người mua nhà sàn cũ, cho hay: “Ngoài những giá trị văn hóa, thói quen sinh hoạt, nhà sàn cũng có nhiều cái tiện lợi. Căn nhà sàn nào cũng có ba tầng, tầng dưới tận dụng làm chuồng nuôi gia súc, gia cầm, thủy cầm; dụng cụ phục vụ lao động sản xuất, chăn nuôi. Tầng giữa người ở, tầng trên để ngô, thóc và các loại đồ dùng hằng ngày. Dù bà con rất yêu quý nếp nhà sàn nhưng số tiền mà họ phải thường xuyên chi ra để sửa chữa là rất lớn”.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc Ma Thanh Sợi cho biết, ở Cao Bằng thì người Tày – Nùng chiếm trên 70% dân số. Cùng với trang phục, ngôn ngữ, nhà sàn là một trong ba yếu tố hình thành bản sắc truyền thống, nét đẹp văn hóa lâu đời. Nhưng cùng với sự phát triển xã hội, những ngôi nhà sàn đã và đang bị thay thế bằng những ngôi nhà xây cấp bốn, nhà cao tầng.

Để tìm hiểu sự thay đổi về không gian sống của người dân tộc thiểu số, chúng tôi đã rong ruổi khắp các bản làng có người Tày – Nùng đang sinh sống ở các huyện vùng cao như Lào Cai, Cao Bằng và một số tỉnh miền núi khu vực Việt Bắc. Ở những bản xa trung tâm, vẫn còn hình ảnh ngôi nhà sàn thấp thoáng sau những rặng tre, lùm cây, giúp người ta dễ nhận ra đây là bản của người dân tộc sinh sống.

Song ở những bản làng gần tỉnh lộ, quốc lộ, những ngôi nhà sàn hai mái (hoặc bốn mái) lợp ngói âm dương đã được thay thế bằng những ngôi nhà xây, nhà tầng, mái lợp prô xi măng, tôn chống nóng.

Theo nhà nghiên cứu Ma Thanh Sợi, trước đây trong các bản làng đều làm nhà sàn lợp ngói âm dương. Một số tận dụng địa hình làm nhà nửa nhà sàn nửa nhà đất. Nhưng dù là nhà sàn hay kiểu nhà nửa sàn nửa đất thì ngôi nhà cũng có ba gian, hai mái. Chỉ trong vòng mấy năm trở lại đây mà số lượng nhà sàn đã giảm đáng kể.

Ông Sợi dự đoán, khoảng chục năm nữa làn hà sàn của người Tày – Nùng có thể “tuyệt chủng” và hình ảnh đẹp đẽ ấy sẽ chỉ còn trong sách vở. Điều đó đồng nghĩa với nguy cơ mai một các giá trị văn hóa truyền thống, những nét đẹp trong phong tục tập quán của đồng bào dân tộc.

Tuy nhiên, trong quan niệm của người dân vùng cao, họ coi đây là một sự đánh đổi để thay đổi bộ mặt nông thôn. Thậm chí, với nhiều người nhà sàn không còn hữu dụng. 

“Nhiều gia đình phá hoặc bán nhà sàn đi để làm nhà kiên cố bằng gạch đã và đang diễn ra rất mạnh. Chính quyền không thể cấm họ bán nhà sàn, cũng không thể cấm họ làm nhà gạch. Cho nên, Nhà nước cần có kế hoạch bảo tồn và khuyến khích đồng bào dân tộc giữ lại nhà sàn cũng như nếp văn hóa dân tộc mình”.  - Nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc Ma Thanh Sợi

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l