Chuyển đến nội dung chính

Không còn quỹ đất mở rộng diện tích rừng, chỉ còn cách nâng cao chất lượng

 Theo Thứ trưởng Thường trực Bộ NNPTNT Hà Công Tuấn, Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 cần đề ra những giải pháp mang tính đột phá để nâng cao chất lượng rừng trong bối cảnh quỹ đất dành cho phát triển lâm nghiệp không thể mở rộng.

 Bình luận 0

Ngành kinh tế quan trọng

Tại hội thảo tham vấn Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2015, tầm nhìn đến năm 2030 do Bộ NNPTNT tổ chức, ông Phạm Văn Điển - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, trong 15 năm thực hiện chiến lược, ngành lâm nghiệp Việt Nam đã nỗ lực triển khai nhiều chương trình, kế hoạch, đề án, dự án quan trọng; cùng với việc ban hành nhiều cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là Luật Lâm nghiệp 2017. Nhờ đó, ngành đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng...

Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2021 - 2030: Quan tâm đến nâng cao chất lượng rừng - Ảnh 1.

Cán bộ kiểm lâm kiểm tra việc trồng rừng gỗ lớn ở Bắc Giang. Ảnh: I.T

"Đồng thời với việc vận hành theo cơ chế thị trường thì Việt Nam cũng tích cực tham gia vào các thể chế quốc tế vể bảo vệ phát triển rừng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao".

Thứ trưởng Thường trực Bộ NNPTNT Hà Công Tuấn

Theo đó, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc tăng  từ 38% năm 2006 lên 41,89% năm 2019 và dự kiến đạt 42% năm 2020; giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản tăng hơn 2 lần, từ 2,8 tỷ USD/năm giai đoạn 2006-2010 lên 6,52 tỷ USD/năm giai đoạn 2012-2018; năm 2019 đạt 11,3 tỷ USD; nguồn thu dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2011-2019 đạt trên 13.900 tỷ đồng, trở thành nguồn tài chính quan trọng, góp phần bảo vệ cho trên 6 triệu ha rừng cung ứng dịch vụ, nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng, tăng thu nhập cho chủ rừng, đặc biệt là góp phần cải thiện sinh kế cho đồng bào miền núi.

Trong khi đó, theo ông Ngô Sĩ Hoài - Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra vô cùng gay gắt như mưa lũ miền Trung vừa qua, ngành lâm nghiệp cần chuyển mạnh sang hướng lâm nghiệp môi trường, lâm nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu.

Coi trọng chất lượng rừng

Nhằm giữ vững và phát huy những thành quả đạt được, đồng thời hướng tới xây dựng ngành lâm nghiệp thực sự trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật trên cơ sở cơ cấu lại ngành lâm nghiệp giai đoạn 2021-2030, góp phần phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, ổn định xã hội, trật tự an ninh, quốc phòng, Bộ NNPTNT tiếp tục xây dựng Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030 tầm nhìn đến năm 2050.

Mục tiêu tổng quát của chiến lược là thiết lập, quản lý, bảo vệ và sử dụng hiệu quả đất rừng được quy hoạch, đảm bảo sự tham gia của các thành phần kinh tế và tổ chức xã hội vào các hoạt động lâm nghiệp, huy động tối đa các nguồn lực xã hội và đóng góp ngày càng tăng vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học; cung cấp đa dạng các dịch vụ môi trường rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân.

Theo Thứ trưởng Hà Công Tuấn, nhìn lại 15 năm phát triển ngành lâm nghiệp (2006 - 2020), chúng ta có thể nhìn thấy rõ những thành tựu. Trong đó, một trong những kết quả lớn nhất là xã hội hóa nghề rừng, thu hút người dân, doanh nghiệp làm lâm nghiệp; lâm nghiệp đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng, vận hành thành công theo cơ chế thị trường và hài hòa với các quy định quốc tế.

Theo Thứ trưởng Hà Công Tuấn, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, vai trò của rừng trong bảo vệ môi trường ngày càng được coi trọng.

 Thứ trưởng Hà Công Tuấn nêu một thực tế, nếu như 15 năm trước việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng dễ thì nay được đánh giá rất kỹ, với phương châm thực hiện nghiêm chủ trương của Chính phủ không đánh đổi môi trường bằng mọi giá cho phát triển.

Từ thực tế đó, trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030, Thứ trưởng Hà Công Tuấn đề nghị, quan tâm đến nâng cao chất lượng rừng, thúc đẩy triển khai thêm các loại dịch vụ môi trường rừng để tăng nguồn tài chính cho bảo vệ, phát triển rừng; đảm bảo sinh kế của người dân.

"Cần có giải pháp mang tính đột phá để cải thiện cơ sở hạ tầng cho phát triển lâm nghiệp, kể cả hạ tầng cho chế biến, trồng rừng, hướng đến phát triển theo hướng hiện đại, bền vững. Động lực là tăng nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng; phải giữ được rừng tự nhiên và làm giàu nó; với diện tích rừng trồng khi không còn dư địa tăng diện tích thì phải có giải pháp về giống, công nghệ để tăng năng suất, chất lượng" - Thứ trưởng Hà Công Tuấn nói.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l