Chuyển đến nội dung chính

Đắk Nông phải "chạy nước rút" để trồng mới hơn 9.000 ha rừng

 Giai đoạn 2016 - 2020, mặc dù có nhiều nỗ lực nhưng tỷ lệ độ che phủ rừng của tỉnh Đắk Nông giảm từ 38,8% xuống còn 38%. Với mục tiêu đến năm 2025 phải nâng tỷ lệ độ che phủ rừng từ 38% lên đến 40%. Ngay từ bây giờ cho đến năm 2022, tỉnh Đắk Nông phải "chạy nước rút" trồng mới hơn 9.000 ha rừng.


Giai đoạn 2016 – 2020, ngành Lâm nghiệp của Đắk Nông đã đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trên cơ sở quỹ đất và điều kiện hiện có, các địa phương, công ty lâm nghiệp, doanh nghiệp đã chủ động xây dựng phương án, kế hoạch trồng rừng hằng năm. Trung bình mỗi năm, diện tích rừng trồng được từ 1.000 - 1.500 ha. Cả giai đoạn, toàn tỉnh Đắk Nông trồng được 8.470 ha rừng, vượt 3.470 ha so với kế hoạch được giao.

Phát triển rừng trong giai đoạn này có chiều hướng tích cực, nhưng về cơ bản vẫn chưa đáp ứng được tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Hiện nay, diện tích đất quy hoạch phát triển lâm nghiệp còn bị lấn chiếm nhiều. Các chính sách trồng rừng chưa thu hút được người dân, doanh nghiệp tham gia. Do điều kiện, đất đai, cây nông nghiệp vẫn chiếm lợi thế hơn so với cây lâm nghiệp, nên việc khuyến khích người dân tham gia trồng rừng còn gặp khó khăn.

Công tác bảo vệ rừng có nhiều chuyển biến tích cực. Lực lượng chức năng của tỉnh đã ngăn chặn được tình trạng phá rừng quy mô lớn, xóa các điểm nóng về phá rừng, lấn chiếm đất rừng. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng vẫn diễn ra hết sức phức tạp. Hàng năm không đạt chỉ tiêu giảm 50% số vụ phá rừng và diện tích thiệt hại mà nghị quyết HĐND tỉnh đặt ra.

Trong giai đoạn, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 1.865 vụ phá rừng trái pháp luật, thiệt hại 729 ha rừng. Đặc biệt, đối với các dự án nông lâm nghiệp, tình trạng doanh nghiệp, chủ rừng và cơ quan chức năng quản lý rừng chưa chặt chẽ, gây mất rừng và kéo theo nhiều điểm nóng về đất đai, gây mất an ninh trật tự, làm phát sinh khiếu nại, khiếu kiện.

Năm 2016, tỷ lệ độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 38,8%. Đến năm 2020, tỷ lệ độ che phủ rừng lại giảm xuống còn 38%. Trong khi chỉ tiêu độ che phủ rừng năm 2020 do Hội đồng nhân dân tỉnh giao là 42%. Như vậy trong giai đoạn 2016-2020 chẳng những không tỷ lệ nâng cao độ che phủ rừng không đạt mà còn bị giảm xuống 0,8%.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nguyên nhân độ che phủ rừng giảm chủ yếu do nhiều diện tích rừng bị phá. Tình trạng dân di cư tự do từ nơi khác đến vẫn diễn ra nhiều và khó kiểm soát, gây áp lực lên rừng và ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng.

Ông Lê Quang Dần, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, để tăng độ che phủ rừng, trước mắt cần phải tập trung giữ nguyên diện tích rừng tự nhiên, tăng cường trồng rừng. Đối với cây rừng trồng mới, ít nhất sau 3 năm, khi cây khép tán mới được tính vào diện tích che phủ rừng.

Cũng theo ông Dần, ngành lâm nghiệp đang xây dựng kế hoạch đến năm 2025 nâng tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 40%. Như vậy, bình quân mỗi năm phải giảm được 50% số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá. Để đạt mục tiêu kế hoạch này, từ năm 2021 - 2022, ngành lâm nghiệp sẽ phải trồng mới hơn 9.000 ha rừng.

Nhiệm vụ này sẽ rất khó khăn, nhưng ngành lâm nghiệp đã xây dựng kế hoạch, trong đó triển khai các giải pháp hạn chế thấp nhất tình trạng phá rừng tự nhiên. Ngành lâm nghiệp cũng đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân phát triển các loại cây công nghiệp được tính vào độ che phủ rừng cao su, mắc ca, điều...

Đặc biệt, ngành lâm nghiệp cũng sẽ triển khai các chính sách hỗ trợ người dân tham gia trồng rừng. Ngoài trồng rừng ngành lâm nghiệp cũng sẽ triển khai Đề án Nông lâm kết hợp để vừa giải quyết bài toán sinh kế, vừa giải quyết vấn đề môi trường, tăng độ che phủ rừng.

BẢO LÂM

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l