Chuyển đến nội dung chính

Tỷ lệ che phủ rừng tăng, vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng giảm rõ rệt

 Chính phủ báo cáo Quốc hội về tình hình thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011- 2020 theo cơ chế Chương trình mục tiêu quốc gia.

TIN LIÊN QUAN
    .
    Giá trị xuất khẩu lâm sán ước năm 2020 đạt 12,5 tỷ USD, theo báo cáo của Chính phủ

    Kết quả nổi bật được nêu tại đây là tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc tiếp tục tăng, từ 39,7% năm 2011 lên 40,84% năm 2015, đạt 41,89% năm 2019; năm 2020 ước đạt khoảng 42%, đạt chỉ tiêu nhiệm vụ giao và chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

    Hằng năm, toàn quốc trồng được khoảng 230 nghìn ha, trong đó khoảng 215 nghìn ha rừng sản xuất, góp phần phòng hộ, bảo vệ môi trường, tạo nguồn nguyên liệu từ gỗ rừng trồng cho công nghiệp chế biến gỗ, với sản lượng khai thác từ gỗ rừng trồng năm 2019 tăng gần 4 lần so với năm 2011, từ 5,16 triệu m3 lên 19,5 triệu m3 vào năm 2019, ước năm 2020 đạt 20,5 triệu m3.

    Giá trị xuất khẩu lâm sản tăng gấp gần 3 lần so với năm 2011, từ 4,2 tỷ USD năm 2011 lên 11,38 tỷ USD năm 2019; ước năm 2020 đạt 12,5 tỷ USD. Việt Nam đứng thứ 6 thế giới, đứng thứ 2 châu Á, thứ nhất Đông Nam Á về giá trị xuất khẩu lâm sản.

    Trong báo cáo bổ sung về nội dung trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng dự kiến đến năm 2025 giá trị xuất khẩu sẽ đạt 18 - 20 tỷ USD, nguồn nguyên liệu gỗ trong nước cơ bản đáp ứng cho nhu cầu chế biến gỗ xuất khẩu và thị trường trong nước, bằng các giải pháp như: tăng năng suất rừng trồng; thay đồi công nghệ đê chê biên sâu giảm nguyên liệu đầu vào nhưng tăng giá trị sản phâm; và tăng diện tích trồng rừng sản xuất hàng năm; tăng diện tích rừng trông có chứng chỉ quản lý rừng bền vững,...

    Đáng chú ý, thu dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2011 - 2020 đạt khoảng 16.780 tỷ đồng, bình quân mỗi năm đạt 1.678 tỷ đồng/năm, trong đó thu từ thủy điện chiếm 95%, còn lại là các dịch vụ khác.

    Trong báo cáo bổ sung Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng cho biết kết quả đã trồng rừng thay thế đối với các dự án chuyển sang xây dựng thủy điện. Theo đó, lũy kế đến nay, cả nước đã trồng được 25.567 ha, gồm 30 tỉnh, 312 dự án, đạt 114% tổng diện tích phải trồng. Như vậy, tính tổng thể trên pham vi cả nước, đến nay đã cơ bản hoàn thành Nghị quyết của Quôc hội khóa XIII, Bộ này khẳng định.

    Thẩm tra báo cáo của Chính phủ, Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội đánh giá, công tác bảo vệ rừng có nhiều tiến bộ, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này giảm rõ rệt.

    Số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2015 là 136.125 vụ, trung bình 27.265 vụ/năm; trong giai đoạn 2016-2020, xảy ra 73.384 vụ, bình quân 14.677 vụ/năm, giảm trung bình 12.588 vụ/năm so với giai đoạn 2011-2015, tương ứng giảm 47%. Diện tích rừng bị thiệt hại là 11.661 ha, trung bình 2.332 ha/năm, giảm 368 ha/năm, tương ứng giảm 12% so với giai đoạn 2011-2015.

    Về kinh phí cho bảo vệ và phát triển rừng, theo báo cáo thẩm tra, từ năm 2011 đến nay, tổng số vốn kế hoạch đã huy động được là 83.997 tỷ đồng, bình quân 8.399,7 tỷ đồng/năm. Trong đó, ngân sách nhà nước: 16.343 tỷ đồng, bình quân 1.634 tỷ đồng/năm, đạt 72,2% kế hoạch; vốn khác: 67.654 tỷ đồng, bình quân 6.765,4 tỷ đồng/năm, đạt 110% kế hoạch.

    Ủy ban thẩm tra cũng chỉ ra hạn chế là nguồn lực ngân sách nhà nước còn eo hẹp, chưa bố trí đủ để thực hiện những nhiệm vụ trong tâm trong Nghị quyết đề ra. Đến giai đoạn 2016 – 2020 mới bố trí nguồn vốn riêng cho thực hiện Chương trình. Đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng chưa tương xứng để thực hiện chính sách được ban hành; cơ sở vật chất cho công tác phòng chống cháy rừng, bảo vệ rừng, hoạt động điều tra, thống kê và kiểm kê rừng còn nhiều hạn chế; một số chỉ tiêu trong Kế hoạch, Chương trình còn chưa hoàn thành triệt để như trồng rừng phòng hộ, đặc dụng (mới đạt 92%); huy động vốn mới đạt 84,3%.

    Nhận xét

    Bài đăng phổ biến từ blog này

    Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

    XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

    Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

    Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

    Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

    XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l