Chuyển đến nội dung chính

Thu dịch vụ môi trường rừng giảm vì thủy điện

 Theo Tổng cục Lâm nghiệp, nguyên nhân khiến việc dịch vụ môi trường rừng giảm so với cùng kỳ năm 2019 chủ yếu từ các công ty thủy điện, chiếm hơn 90%.

Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), 6 tháng đầu năm sản xuất thủy điện đạt 15,72 tỷ kWh, giảm 33,77% so với cùng kỳ năm 2019. Ảnh: Nguyễn Tuyền.

Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), 6 tháng đầu năm sản xuất thủy điện đạt 15,72 tỷ kWh, giảm 33,77% so với cùng kỳ năm 2019. Ảnh: Nguyễn Tuyền.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Lâm nghiệp, tính đến ngày 22/9/2020 cả nước đã thu được trên 1.400 tỷ đồng phí dịch vụ môi trường rừng, đạt 50% kế hoạch thu năm 2020 và bằng 76% so với cùng kỳ năm 2019.

Trong đó, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Trung ương thu được trên 926 tỷ đồng, đạt 50% kế hoạch năm 2020 bằng 72% so với cùng kỳ năm 2019, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh thu được xấp xỉ 500 tỷ đồng, đạt 51% kế hoạch năm 2020, bằng 83% so với cùng kỳ năm 2019.

Về nguyên nhân khiến việc dịch vụ môi trường rừng giảm so với cùng kỳ năm 2019, theo Tổng cục Lâm nghiệp do tiền dịch vụ môi trường rừng thu chủ yếu từ các công ty thủy điện, hiện chiếm hơn 90%. Tổng thu năm 2020 giảm, nguyên nhân chính do sản lượng điện thương phẩm tại các công ty thủy điện giảm so với cùng kỳ năm 2019.

Lý giải cho sự giảm sụt lớn về sản lượng điện này, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) trong thông báo mới đây cho biết, do 6 tháng đầu năm sản xuất thủy điện đạt 15,72 tỷ kWh, giảm 33,77% so với cùng kỳ năm 2019.

Bên cạnh đó, tình hình thủy văn trong 6 tháng đầu năm 2020 có mưa lớn tại một số khu vực nhưng lượng nước về các hồ chứa vẫn ở mức thấp, chỉ bằng 30 - 60% trung bình nhiều năm, do mưa xảy ra chủ yếu ở vùng hạ lưu các hồ chứa.

Tổng sản lượng thủy điện theo nước về các hồ thủy điện trên toàn hệ thống trong tháng 5 là 2,23 tỷ kWh, thấp hơn 0,84 tỷ kWh so với kế hoạch năm. Lũy kế 5 tháng đầu năm đạt 9,48 tỷ kWh, thấp hơn 3,26 tỷ kWh so với kế hoạch năm.

Trong lĩnh vực trồng rừng, lũy kế 9 tháng năm Việt Nam trồng được hơn 3.100ha rừng phòng hộ (tháng 9 trồng được gần 1.300 ha), bằng 54% so với cùng kỳ năm 2019. Rừng đặc dụng 635ha (tháng 9 trồng được 294 ha), bằng 127% so với cùng kỳ năm 2019. Rừng sản xuất trên 139.000ha (tháng 9 trồng được trên 14.700 ha) bằng 92% so với cùng kỳ năm 2019.

Lũy kế 9 tháng năm 2020, Việt Nam trồng được hơn 3.100ha rừng phòng hộ (tháng 9 trồng được gần 1.300 ha), bằng 54% so với cùng kỳ năm 2019. Ảnh: Nguyên Huân.

Lũy kế 9 tháng năm 2020, Việt Nam trồng được hơn 3.100ha rừng phòng hộ (tháng 9 trồng được gần 1.300 ha), bằng 54% so với cùng kỳ năm 2019. Ảnh: Nguyên Huân.

Trong tổng số hơn 16.000ha rừng trồng được trong 9 tháng năm 2020, diện tích trồng mới trên 19.000ha (tháng 9 hơn 3.200ha), bằng 71% so với cùng kỳ năm 2019, trồng lại rừng sau khai thác 123.000ha (tháng 9: 11.000ha), bằng 99% so với cùng kỳ năm 2019.

Diện tích rừng trồng được chăm sóc lũy kế 9 tháng năm 2020, diện tích rừng trồng được chăm sóc gần 445.000ha, bằng 91% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó, trong tháng 9 đã chăm sóc được trên 25.000ha rừng trồng.

Diện tích rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh lũy kế 9 tháng, diện tích khoanh nuôi xúc tiến tái sinh hơn 166.000ha, đạt 46,1% kế hoạch năm, bằng 104% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó khoanh nuôi mới 30.000ha, khoanh nuôi chuyển tiếp 136.000ha. Riêng trong tháng 9 đã khoanh nuôi được trên 1.800ha, toàn bộ là khoanh nuôi mới.

Về sản lượng gỗ khai thác, đến nay, trong số 63 tỉnh báo cáo, có 53 tỉnh có số liệu về sản lượng khai thác gỗ lũy kế 9 tháng, các địa phương đã khai thác được trên 10 triệu m3, đạt xấp xỉt 52% so với kế hoạch năm 2020 (tháng 9 trên 1,2 triệu m3).

Số diện tích rừng bị giảm trên 1.400ha, bằng 52% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó cháy rừng 604 ha, phá rừng trái pháp luật 672 ha, khai thác rừng trái phép 6ha. Thu nộp về ngân sách 63,3 tỷ đồng và khối lượng lâm sản tịch thu trên 9.000 m3 gỗ thông thường...

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l