Chuyển đến nội dung chính

Gian nan giữ rừng nghiến cổ

 

Vùng rừng núi Na Hang có hàng nghìn cây nghiến cổ thụ. Có cây sống lâu bằng cả mấy đời người. Có được rừng quý đã khó, việc giữ gìn, bảo vệ còn khó hơn

Gốc nghiến cổ thụ ở khu rừng đặc dụng của huyện Na Hang cả chục người ôm không xuể. Ảnh: Đào Thanh.


Nơi chỉ có kiểm lâm, nghiến và lâm tặc

Trời vừa tảng sáng, khi gà chưa kịp gáy chúng tôi gấp rút lên đường theo đoàn kiểm lâm huyện Na Hang (Tuyên Quang) đi tuần rừng. Vượt qua những dốc đá cheo leo, những con đường mòn thăm thẳm, trước mắt chúng tôi hiện ra cánh rừng xanh ngút mắt với hàng trăm cây nghiến cổ thụ cũng là lúc bóng nắng vừa tròn đầu.

Có cây nghiến cả chục cán bộ kiểm lâm lực lưỡng cao trên 1,7m của huyện Na Hang cùng nắm tay nhau nhưng chẳng thể ôm vừa. Những cây nghiến vỏ xù xì đầy rêu mốc, rễ luồn lách qua từng kẽ đá đâm sâu vào lòng đất như để minh chứng cho sức sống bền bỉ.

Anh Lục Văn Thiên, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Pác Vãng, thuộc Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Nà Hang nói rằng, đã là gỗ nghiến thì đều quý, nhưng nghiến núi đá thì là cực phẩm. Bởi trong điều kiện khó khăn nên cây lớn rất chậm. Nhưng chính cái sự chậm lớn ấy lại làm nên giá trị của nó. Nghiến núi đá cây nào cũng cứng, chắc và rất bền.

Vỏ xù xì đầy rêu mốc minh chứng cho sức sống bền bỉ theo thời gian của các 'cụ' nghiến. Ảnh: Đào Thanh.


Những khu có nhiều nghiến cổ thường ở những vùng sâu, xa khó đi nhất. Để bảo vệ hiệu quả, ngành kiểm lâm đều lập các chốt ở đấy. Có những điểm chốt quanh năm sương giăng mây phủ. Quanh năm chẳng thấy mặt người. Vỏn vẹn cả nghìn ha rừng đặc dụng chỉ có 1 cán bộ kiểm lâm, 2 tuần rừng, 1 cây súng đạn cao su, 1 chiếc lán tạm. Đi bộ 5 giờ đồng hồ không một bóng người, nếu có chỉ là lâm tặc. Bởi thế, anh nào được giao nhiệm vụ đi về trung tâm xã lấy lương thực tiếp tế cho những ngày tiếp theo đều mừng như “vớ được vàng” sau nhiều ngày là “người rừng.”

Những cán bộ kiểm lâm ở chốt bảo, đường đi cách trở nên anh em ở đây thường mua gạo theo tháng. Khắc phục khó khăn, không có điện, các anh dựa vào dòng chảy của thác Pác Vãng để làm thủy điện (mới đây có thêm điện năng lượng mặt trời). Không có chợ, các anh tự đan nứa rồi đắp đất làm vườn trồng rau, chăn nuôi gà, dê, lợn. Đặc biệt, đến nay trạm đã làm được 6 lồng cá.

Trạm Trưởng Lục Văn Thiên cười đùa: “Ở đây thuận lợi nhất là nuôi cá lồng, nguồn nước sạch cá lớn rất nhanh. Sống ở đây chẳng kém gì khu nghỉ dưỡng sinh thái, không khí trong lành, ăn đồ sạch, rau rừng sạch, cá hồ thủy điện thì nhiều vô kể”.

Chốt trung tâm của Trạm kiểm lâm Pác Vãng được xem là nơi văn minh của các điểm chốt giữ rừng cũng nằm trong nhóm 3 không: Không sóng điện thoại, không lưới điện quốc gia, không hàng xóm. Nhiều khi cả tháng trời các anh không được về nhà gặp người thân dù nhà ở ngay thị trấn Nà Hang. Cái hơn của các anh ở chốt trung tâm là thỉnh thoảng còn được gặp dân chài lưới và nhờ vả họ mua cân thịt lợn, chai mắm, yến gạo…

Lực lượng kiểm lâm, tuần rừng tại chốt Pác Vãng tự nuôi cá lồng để cải thiện cuộc sống. Ảnh: Đào Thanh.


Trạm kiểm lâm Pác Vãng có 2 chốt, với 2 kiểm lâm và 4 nhân viên tuần rừng có nhiệm vụ quản lý và bảo vệ hơn 3.000ha rừng. Loài cây trong khu trạm quản lý phổ biến nhất là cây nghiến, có cây đã vài nghìn tuổi. Nhất là rừng thuộc khu Tà Bẹt có cả vài chục cây nghiến cổ sống tập trung.

Nhìn cuộc sống của các anh, tôi chợt nhớ lại hình ảnh gian khó của những giáo viên cắm bản vùng sâu, vùng cao. Nhưng những người thầy cắm bản hàng ngày còn được giao lưu với các em học sinh, giao lưu với phụ huynh. Còn những kiểm lâm nơi đây thực sự là những người rừng. Có khi cả tuẩn chẳng được tiếp xúc với ai. Nhiều anh nói vui, khi thấy lâm tặc cũng là lúc thấy người duy nhất sau cả tuần, nhưng chẳng thể tay bắt mặt mừng được vì mục đích đến với rừng trái ngược.

Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Nà Hang có nhiệm vụ bảo vệ, gìn giữ môi trường sinh thái của toàn bộ những cánh rừng đặc dụng tại huyện Nà Hang với tổng diện tích trên 33.000ha. Hiện Hạt có 6 trạm, 15 chốt với 28 cán bộ, công chức kiểm lâm và 37 nhân viên tuần rừng. Nếu chia theo đầu người, thì bình quân mỗi người phải phụ trách trên 500ha rừng. Trung bình mỗi tháng, các chiến sỹ kiểm lâm và nhân viên tuần rừng phải có ít nhất 20 ngày ăn ở trong rừng. Trung bình mỗi ngày cán bộ, nhân viên phải đi từ 9 - 10km đường rừng, làm không kể ngày nghỉ cuối tuần; ngủ đêm trong rừng cũng thường xuyên.

Mồ hôi, máu và sinh mạng

Đi qua những con dốc treo mình vắt vẻo bên sườn núi, qua cánh rừng già mới đến chốt kiểm lâm Tham Đét, thuộc xã Sinh Long. Chốt nằm hun hút trong rừng sâu, được dựng từ năm 2014.

Ngày làm chốt Tham Đét, anh em kiểm lâm chật vật khuân vác từng tấm tôn, cây cột. Phải mất nửa ngày đi bộ mới đưa được vật liệu vào điểm dựng nhà chốt. Mùa đông mà mồ hôi các anh túa ra áo ướt đầm đìa, máu thấm rỉ trên vai áo.

Điểm chốt có nhân viên tuần rừng Lý Càn Hai. Tuổi ngoài đôi mươi, sau khi tốt nghiệp Trung cấp lâm nghiệp, chàng trai trẻ người Dao tình nguyện đến với rừng và được giao nhiệm vụ phối hợp với cán bộ kiểm lâm tại chốt bảo vệ gần 2.000ha rừng. Nhận lương tháng chưa đầy 3 triệu, Hai hứa với mẹ, sẽ tích cóp tiền để cất lại mái nhà bị dột. Vì trên rừng ko tiêu đến tiền, gạo nhà mang đi, rau rừng thì nhiều vô kể.

Cả nghìn ha rừng đặc dụng chỉ có 1 kiểm lâm và 2 nhân viên tuần rừng tại mỗi điểm chốt. Ảnh: Đào Thanh.


Ngày 8/4/2019, trời mưa như trút nước, sấm chớp đùng đoàng tưởng như vỡ núi, gió xoáy mạnh khiến những cành nghiến rắn chắc vạm vỡ cũng phải đổ gẫy. Căn nhà tạm tại chốt kiểm lâm Tham Đét cũng bị đổ sập hoàn toàn. Trong lều khi ấy có Lý Càn Hai và kiểm lâm viên Lý Văn Luân.

Kiểm lâm viên Lý Văn Luân nhớ lại, đêm ấy mưa rất to, gió lớn. Căn lều tạm rung lên bần bật theo từng cơn gió rít. 2 anh em chia nhau ra tìm chỗ trú ẩn. Cơn giông ngớt, Luân như chết lặng khi tìm thấy Lý Càn Hai nằm dưới đống đổ nát, mặt tái nhợt, người bê bết máu. Xốc vội Hai lên lưng, anh vừa chạy vừa gào thét hi vọng có người trợ giúp nhưng bất lực. Bởi trạm y tế quá xa còn tiếng gào thét của anh cứ văng vẳng rồi tan loãng vào đêm giông.

Nhân viên tuần rừng Lý Càn Hai đã qua đời ở tuổi 30. Để lại người vợ trẻ và đứa con thơ mới bi bô tập nói. Lời hứa cất lại mái nhà cho mẹ của anh vẫn còn dang dở.

Ở ngành kiểm lâm Na Hang, ông Lê Hồng Binh được xem như con chim đầu đàn. Ông vốn là Hạt phó Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang nhưng đã về hưu. Công tác trong ngành kiểm lâm hơn 30 năm, ở khắp cánh rừng Na Hang này chỗ nào ông cũng biết. Khu nào có nhiều gỗ quý, khu nào lâm tặc hay hoạt động ông đều nắm chắc trong lòng bàn tay. Vì vậy năm 2013, lãnh đạo Hạt đã hợp đồng tuần rừng với ông để ông chỉ dẫn, dạy bảo cho cán bộ kiểm lâm trẻ và người tuần rừng hiểu được đường nào đi thuận lợi, đường nào có nhiều khả năng lâm tặc hay khai thác, đường nào sẽ chỉ dẫn đến rừng gỗ quý.

Ngày mới vào nghề, ông Binh có không ít lần bị lạc trong rừng mấy ngày chỉ ăn củ quả, lá rừng. Khi già nghề ông không ít lần bị lâm tặc dùng súng hù dọa. Ông tếu táo: “Đạn chì thì chưa dính, nhưng số lần bị ném đá thì đếm không hết”. Đến nay, trên mặt ông vẫn còn nguyên vết sẹo do lâm tặc dùng đá tấn công. Thế nhưng ông chưa khi nào biết sợ. Gian khó là thế, nhưng bởi nghiệp rừng đã ăn sâu vào tiềm thức ông, và cũng bởi những hi sinh và tâm nguyện còn dang dở của đồng đội nên dù đã về hưu ông vẫn xin ở lại với rừng.

Cuộc chiến giữ rừng vẫn còn nhiều gian khó, thử thách với lực lượng kiểm lâm huyện Na Hang. Ảnh: Đào Thanh.


Những cánh rừng nghiến thâm u vẫn mãi xanh ngằn ngặt, ở đó chứa đựng bao câu chuyện thầm kín, bao nỗi nhọc nhằn của lực lượng kiểm lâm huyện Na Hang. Cuộc chiến giữ rừng vẫn vẹn nguyên phía trước và những nhọc nhằn cũng mãi theo mỗi bước chân của các anh.

Hơn 14 năm đã qua, ông Binh chưa thể nào quên câu chuyện về anh Trần Xuân Bắc, nhân viên tuần rừng nằm lại mãi mãi với rừng xanh. Mùa hè năm 2006, anh Bắc cùng đồng nghiệp đi tuần tại khu rừng Nặm Trang, xã Sơn Phú. Phát hiện có lâm tặc, anh Bắc quyết tâm truy đuổi. Lâm tặc nổ súng rồi bỏ chạy, hàng trăm viên đạn hoa cải bắn vào người anh. Anh Bắc đã trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay đồng đội.

Do rừng sâu, núi thẳm đường đi khó khăn, phải mất 5 giờ đồng hồ thi thể anh Bắc mới được đưa về thị trấn Nà Hang. Sau này, được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, Hạt đã xin và hoàn thiện được hồ sơ, thủ tục công nhận liệt sỹ cho anh, đó cũng là nén tâm nhang thành kính an ủi linh hồn anh.

Anh Bắc chưa có vợ, bố mẹ mất sớm. Anh chỉ có chị gái là người thân duy nhất. Người chị gái đã thay bố mẹ nuôi nấng anh nên người. Người chị ấy lại lén nỗi đau, hương khói cho cậu em trai ra đi khi tuổi đời vẫn còn xanh.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l