Chuyển đến nội dung chính

Công nghệ sinh học thúc đẩy ngành lâm nghiệp phát triển vượt bậc

 Nhờ thành quả từ chương trình nghiên cứu trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, ngành lâm nghiệp những năm qua có sự phát triển vượt bậc.

Hàng chục giống lâm nghiệp mới đã được công nhận trong thời gian triển khai chương trình nghiên cứu trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Ảnh: IFTIB.


Hàng chục giống lâm nghiệp mới được công nhận

Chương trình trình nghiên cứu trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học có mục tiêu tạo ra các giống cây trồng lâm nghiệp, các chế phẩm công nghệ sinh học mới có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao. Tăng cường tiềm lực cho công nghệ sinh học lâm nghiệp thông qua đào tạo được đội ngũ cán bộ công nghệ sinh học và đầu tư nâng cấp hệ thống phòng thí nghiệm công nghệ sinh học lâm nghiệp.

TS Nguyễn Đức Kiên, Viện Nghiên cứu giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) nhấn mạnh, đến nay có thể khẳng định chương trình đã đạt được cơ bản các mục tiêu đề ra, trong đó có rất nhiều thành tựu nghiên cứu được coi như bước đột phá mới cho ngành lâm nghiệp.

Cụ thể, chương trình đã chọn tạo được nhiều giống keo, bạch đàn mới, có năng suất và chất lượng cao, bao gồm 13 giống mới được công nhận là 4 dòng keo tam bội X101, X102, X201, X205; 7 dòng keo lai tự nhiên BB055, BV350, BV376, BV434, BV523, BV584 và BV586 và 2 dòng bạch đàn lai CU98 và CU82.

Bên cạnh đó, còn có 3 dòng bạch đàn trắng kháng bệnh đốm lá (mức kháng cấp C0), 8 dòng bạch đàn lai sinh trưởng nhanh (UC16, UC51, CU113, CU123, UC52, CU182, UE72, UC55), 4 dòng bạch đàn lai UU cho chiều dài sợ gỗ vượt từ 14% so với đối chứng, 40 dòng bạch đàn lai UP chuyển gen EcHB1 cho chiều dài sợi gỗ, 11 dòng T0 chuyển gen bạch đàn GA20/GS21 sinh trưởng nhanh, 8 dòng xoan ta chuyển gen GA20, GA21 sinh trưởng nhanh và  mang gen Cl1 chất lượng gỗ tốt rất có triển vọng.

Sản xuất giống cây lâm nghiệp bằng công nghệ nuôi cấy mô tại Viện Nghiên cứu giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp. Ảnh: IFTIB.


Chương trình cũng đã triển khai các dự án sản xuất thử nghiệm vi nhân giống bạch đàn và keo với sản phẩm là qui trình công nghệ vi nhân giống cây bạch đàn, keo qui mô công nghiệp được hoàn thiện ứng dụng thành công tại Quảng Ninh, Yên Bái, Sơn La, Tuyên Quang, Bình Định. Khoảng 30 triệu cây giống bạch đàn, keo bằng công nghệ mô đã được cung cấp ra thị trường.

Về lĩnh vực vi sinh, đã nghiên cứu thành công 4 loại chế phẩm vi sinh, phân bón hữu cơ chức năng phục hồi, ổn định và nâng cao độ phì của đất trồng góp phần tăng khả năng giữ nước ở vùng đất trồng cây lâm nghiệp, phân giải chất hữu cơ để giảm nguy cơ cháy rừng, nổi bật là 2 chế phẩm vi sinh vật hỗn hợp dùng cho thông (MF1) và bạch đàn (MF2).

Từ chương trình, gần 20 thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành công nghệ sinh học đã được đào tạo ở các nước tiên tiến như Úc, Nhật Bản, Đức, Thụy Điển và hàng trăm kỹ thuật viên cho các cơ sở sản xuất. Thông qua các dự án khoa học công nghệ cũng đã tăng cường trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm công nghệ sinh học của các đơn vị trực thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và Trường Đại học Lâm nghiệp.

Giống keo lai tam bội, thành quả từ Chương trình trình nghiên cứu trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Ảnh: IFTIB.


Công nghệ sinh học tiếp tục là động lực cho ngành lâm nghiệp

Theo TS Nguyễn Đức Kiên, công nghệ sinh học ngày càng đóng vai trò quan trọng trong mọi mặt của sản xuất nông lâm nghiệp trên thế giới, nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ sinh học trong sản xuất nông lâm nghiệp nên năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 11/2006/QĐ-TTg phê duyệt "Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020".

Từ năm 2006 đến nay, chương trình đã thực hiện 26 đề tài và dự án khoa học công nghệ với nhiều hướng nghiên cứu như nghiên cứu tạo giống cây lâm nghiệp mới bằng công nghệ sinh học tiên tiến, như chuyển gen, chỉ thị phân tử, đa bội thể. Từ đó nhân nhanh các giống mới bằng công nghệ tế bào và ứng dụng công nghệ vi sinh để sản xuất các chế phẩm bảo vệ thực vật, phân vi sinh phục vụ chăm sóc và bảo vệ cây trồng lâm nghiệp.

Với kết quả to lớn đạt được trong giai đoạn 2006 - 2020, ngành lâm nghiệp xác định, nghiên cứu công nghệ sinh học giai đoạn 2020 - 2030 vẫn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu.

Chế phẩm sinh học dùng trong ngành lâm nghiệp do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam sản xuất. Ảnh: IFTIB.


Trong đó, Viện Nghiên cứu giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp tiếp tục đóng vai trò nòng cốt nghiên cứu chọn giống ứng dụng công nghệ gen cho các loài cây trồng rừng chính keo, bạch đàn và một số loài cây bản địa nhằm nâng cao năng suất, chất lượng gỗ, khả năng chống chịu sâu bệnh hại và các điều kiện bất lợi khác.

Nghiên cứu tạo các giống mới bằng phương pháp đa bội thể cho các loài cây trồng rừng chính keo, bạch đàn nhằm nâng cao năng suất, chất lượng gỗ, khả năng chống chịu sâu bệnh hại và các điều kiện bất lợi khác.

Nghiên cứu chuyển một số gen chống chịu sâu bệnh hại, chịu hạn, chịu mặn và tăng cường chất lượng gỗ cho một số loài cây trồng rừng chính keo, bạch đàn, thông,... Tiến hành lập bản đồ gen cho một số loài cây đặc hữu, cây quý hiếm, có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam như sâm Ngọc Linh, trầm hương,…

Nghiên cứu phân lập một số gen quý hiếm liên quan đến chất lượng gỗ, chống chịu sâu bệnh hại, chịu hạn, chịu mặn ở các loài cây đặc hữu Việt Nam phục vụ cho nghiên cứu chọn tạo giống mới.

Tiếp tục nghiên cứu xây dựng thư viên mã vạch di truyền (DNA barcode) cho các loài cây quý hiếm, bị đe dọa ở Việt Nam. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ nano để tạo ra các giống cây trồng mới có khả năng chống chịu sâu bệnh hại cao.

Hoàn thiện quy trình vi nhân giống quy mô công nghiệp cho các giống mới keo, bạch đàn và một số loài cây bản địa, cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao, diện tích gây trồng lớn và chuyển giao cho các cơ sở sản xuất.

Nghiên cứu phát triển hoặc nhận chuyển giao từ nước ngoài công nghệ vi nhân giống cải tiến nhằm nâng cao hiệu suất và hạ giá thành cây giống.

Với định hướng ứng dụng công nghệ vi sinh trong lâm nghiệp, tập trung đẩy mạnh nghiên cứu sản xuất quy mô công nghiệp các chế phẩm vi sinh vật tăng cường phân giải lân, cố định đạm và phục hồi hệ vi sinh vật, độ phì đất rừng, vi sinh vật phân hủy vật liệu hữu cơ sau khai thác rừng, vật liệu cháy dưới tán rừng.

Ngoài ra, nghiên cứu sản xuất các chế phẩm vi sinh, chế phẩm sinh học, chế phẩm sinh học nội sinh để kích kháng, phòng trừ sâu, bệnh hại, tăng năng suất rừng trồng cũng là nhiệm vụ quan trọng.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l