Chuyển đến nội dung chính

Áp sai mã HS đối với gỗ ván ghép thanh: VIFOREST gửi đơn kêu cứu

Mới đây, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) đã có đơn kiến nghị gửi Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương về việc áp sai mã HS khiến mặt hàng gỗ ván ghép thanh đang chịu mức thuế suất thuế xuất khẩu 0% thì nay phải chịu mức 25% như đối với xuất khẩu mặt hàng nguyên liệu thô gây khó khăn rất lớn cho các doanh nghiệp trong ngành.
Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tháng 6 tăng 15,6% so với cùng kỳTận dụng tốt các cơ hội về thị trường khôi phục chế biến, xuất khẩu gỗGiải pháp nào cho ngành gỗ Việt tăng tốc và bứt phá sau đại dịch

Cụ thể, trong Công văn số 59/2020/CV-VIFOREST ngày 14/7/2020 Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam gửi đi các Bộ ngành nêu rõ, trong mấy ngày qua, sản phẩm ván ghép thanh bị ùn tắc tại nhiều cảng và nhiều doanh nghiệp thành viên Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam bị đối tác thương mại phạt chậm giao hàng do Tổng cục Hải quan ban hành Văn bản số 4250/TB-TCHQ (ông Lưu Mạnh Tưởng, Phó Tổng cục trưởng, ký ngày 24/6/2020).

Với văn bản này, gỗ ván ghép thanh, chủ yếu sử dụng nguyên liệu gỗ keo rừng trồng và gỗ cao su, bị áp mã HS 4407 “Gỗ đã cưa và xẻ theo chiều dọc, lạng hoặc bóc, đã hoặc chưa bào, chà nhám hoặc ghép nối đầu, có độ dày trên 6 mm” thuộc phân nhóm HS 440729.97.90 và bị coi là sản phẩm sơ chế, như gỗ xẻ thanh, bị áp thuế xuất khẩu 25% để hạn chế, thậm chí ngăn chặn xuất khẩu vì không tạo nhiều giá trị gia tăng và vì phải dành nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong nước.

ap sai ma hs doi voi go van ghep thanh viforest gui don keu cuu
Gỗ ván ghép thanh bị ùn tắc tại các cảng biển: VIFOREST gửi đơn kêu cứu

Trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và thực hiện chủ trương của Chính phủ thúc đẩy nông dân chuyển sang trồng rừng gỗ lớn, hạn chế xuất khẩu dăm gỗ, nhiều doanh nghiệp ngành gỗ đã đầu tư nhà máy chế biến gỗ ván ghép thanh để xuất khẩu. Với quyết định áp mã HS 4407 và áp thuế 25%, công nghiệp gỗ ván ghép thanh, có thể mang lại hàng trăm triệu USD kim ngạch xuất khẩu, các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này đối diện nguy cơ vỡ nợ, phá sản. 

Theo ông Đỗ Xuân Lập - Chủ tịch VIFOREST - gỗ ghép thanh đã được áp mã HS 4418 (đồ mộc dùng trong xây dựng, kể cả tấm gỗ có lõi xốp, tấm lát sàn đã lắp ghép và ván lợp - shingles and shakes), nằm trong phân nhóm HS 4418.90.99.

Tại Văn bản số 9365/BTC-CST, ngày 1/7/2019, về việc thuế xuất khẩu tấm gỗ ghép thanh thành tấm, Vụ Chính sách thuế của Bộ Tài chính cũng đã khẳng định gỗ ván ghép thanh là mặt hàng tấm gỗ (panel) làm từ các thanh gỗ (kể cả loại đã được ghép theo chiều dọc để làm tăng chiều dài của gỗ như mô tả tại nhóm 4407) được tiếp tục ghép theo chiều ngang thành các tấm bản lớn bằng keo và lực ghép, bào bốn mặt, quét keo, chà nhám, tề đầu rong cạnh thành tấm gỗ dùng để sản xuất bàn, tủ, giường, cánh tủ… thuộc các nhóm từ 44.18 đến 44.21, thuế xuất khẩu bằng 0%.

Ngoài ra, Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh (Văn bản số 959/HQTPHCM-TXNK ngày 10/4/2015) và Chi cục Kiểm định Hải quan 4 (Văn bản số 337/TB-KĐ4, ngày 13/3/2019) cũng đã khẳng định mã HS 4418 của mặt hàng gỗ ván ghép thanh.

Về quy chuẩn và thông lệ quốc tế, Malaysia và Indonesia là hai nước thành viên ASEAN đều kê khai gỗ ván ghép thanh vào mã HS 4418. Tại Chương 44 của Biểu thuế quan hài hòa, Vương quốc Anh cũng quy định ván ghép thanh thuộc mã HS 4418.

Vì vậy, trong công văn gửi đi, VIFOREST đề nghị Bộ Tài chính khẩn thiết xem xét và thông báo ngay để hải quan ở các địa phương cho doanh nghiệp xuất khẩu gỗ ván ghép thanh với thuế suất bằng 0%. Đồng thời, xem xét và hủy bỏ ngay Thông báo số 4250, ngày 24/6/2020, để mặt hàng gỗ ván ghép thanh trở lại mã HS 4418 như đã được khẳng định tại Văn bản số 9365/BTC-CST, ngày 1/7/2009 của Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính và các văn bản gửi kèm của Hải quan TP. Hồ Chí Minh. 

Liên quan đến vấn đề này, ông Hà Công Tuấn - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - cho rằng, việc Tổng cục Hải quan áp dụng mã hàng hóa của ván ghép thanh theo mã HS 4407 là không phù hợp với Thông tư 65 cũng như ý kiến của Bộ Tài chính tại Văn bản số 9365/BTC ngày 1/7/2009. Để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng cục Hải quan không điều chỉnh mà vẫn áp mã hàng xuất khẩu 4418 đối với ván ghép thanh và các sản phẩm đồ mộc có sử dụng ván ghép thanh như hiện nay theo đề nghị của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam.

Hiện nay, cả nước có 146 doanh nghiệp sản xuất ván ghép thanh, với công suất khoảng 570.000mphẩm/năm; nguyên liệu sản xuất ván ghép thanh là các loại gỗ rừng trồng trong nước, chủ yếu là gỗ keo, cao su, bạch đàn.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị xuất khẩu ván ghép thanh năm 2019 đạt 332,7 triệu USD, chiếm 2,9% tổng giá trị xuất khẩu lâm sản, tăng 16,7% so với năm 2018; 6 tháng đầu năm 2020 đạt 181,5 triệu USD, chiếm 3,4% giá trị xuất khẩu, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm 2019. Trên thị trường, ván ghép thanh có giá xuất khẩu cao gấp 3-4 lần giá gỗ xẻ (gỗ xẻ giá từ 3,4-3,6 triệu đồng/m3; ván ghép thanh giá từ 10-14 triệu đồng/m3).Trong khi đó, để làm ra 1mván ghép thanh cần sử dụng 1,7-1,8 m3 gỗ xẻ.

Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, cả nước có trên 2.000 hộ gia đình đang tham gia và khâu xẻ gỗ. Phát triển sản xuất gỗ ghép, góp phần giảm chi phí vận chuyển gỗ tròn về vùng có các nhà máy chế biến gỗ và mang lại giá trị gia tăng cho ngành chế biến gỗ. Đồng thời, sản xuất mặt hàng này giúp giải quyết vấn đề nguyên liệu lãng phí trong ngành gỗ, tận dụng được tối đa nguyên liệu và giải bài toán cây gỗ lớn đối với ngành lâm nghiệp.

Nguyễn Hạnh

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l