Sở NN&PTNT TT-Huế nói gì về việc hơn 800ha rừng tự nhiên “bốc hơi”?

Bộ NN&PTNT vừa công bố các địa phương để mất rừng, đất lâm nghiệp nhiều, trong đó Thừa Thiên Huế 807ha rừng. Tuy nhiên, Sở NN&PTNT Thừa Thiên Huế cho biết, diện tích rừng bị “bốc hơi” là do sai số.

Theo báo cáo từ Sở NN&PTNN Thừa Thiên Huế cho hay, năm 2018, diện tích rừng tự nhiên toàn tỉnh Thừa Thiên Huế là 212.180,45 ha; năm 2019, diện tích rừng tự nhiên toàn tỉnh là 211.373,11 ha, giảm 807,34 ha so với năm trước.

Nguyên nhân rừng bị giảm sau 2 năm bao gồm: Cháy rừng 0,14 ha (ở xã Hương Giang và Thượng Lộ, huyện Nam Đông). Phá rừng trái pháp luật, lấn chiếm rừng làm giảm 10,35ha, trên các địa bàn các huyện: A Lưới (1,87 ha), Nam Đông (7,25ha), Phong Điền (0,78ha), Phú Lộc (0,4ha) và Phú Vang (0,5ha); trong số đó, có 7ha rừng gỗ tự nhiên và 3,35 ha rừng hỗn giao gỗ - tre nứa. Sạt lỡ gây mất diện tích rừng gỗ tự nhiên 11,26ha ở xã Thượng Quảng (Nam Đông).

Một nguyên nhân quan trọng khiến diện tích lớn rừng bị mất, theo ngành nông nghiệp địa phương này lý giải: Do sai khác dữ liệu hiện trạng rừng giữa kết quả kiểm kê rừng năm 2016 với thực tế nên phải điều chỉnh làm giảm 785,59ha. Cùng đó, do sai khác dữ liệu giữa hiện trạng rừng tại bản đồ kiểm kê rừng năm 2016 và hiện trạng rừng năm 2018 khiến cho diện tích rừng tự nhiên bị mất, diện tích đất trống và diện tích rừng trồng tăng 391,59ha và 394 ha.

Tình trạng người dân lấn chiếm trồng rừng kinh tế làm diện tích rừng tự nhiên giảm

Sở NN-PTNT tỉnh Thừa Thiên - Huế giải thích, việc sai khác hiện trạng rừng tự nhiên chủ yếu do 2 nguyên nhân.

Nguyên nhân thứ nhất, căn cứ Thông tư liên tịch số 12/2014/TTLT-BNNPTNT ngày 24/1/2014 của liên Bộ Tài chính-Bộ NN&PTNT hướng dẫn cơ chế quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện dự án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016”, quá trình kiểm kê rừng năm 2016 tại tỉnh không thực hiện kiểm kê các diện tích rừng đã nằm trong phạm vi chi trả dịch vụ môi trường rừng mà chỉ kế thừa số liệu (hồ sơ, bản đồ) của Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng tỉnh chứ không thực hiện điều tra, đo đếm và thực hiện kiểm kê như các diện tích khác. Do nguyên nhân này, nên có 495,63ha RTN được ghi nhận trên dữ liệu kiểm kê, nhưng thực tế là rừng trồng và đất trống (chiếm 63,09%).

Nguyên nhân thứ hai, theo quy trình, việc kiểm kê rừng tại các địa phương dựa trên kết quả điều tra rừng được Viện Điều tra Quy hoạch rừng - đơn vị tư vấn Trung ương bàn giao.

Tuy nhiên, kết quả điều tra này cũng có sai số với nhiều lý do kỹ thuật khác nhau, khiến việc kiểm kê mặt đất (chỉ chọn mẫu ngẫu nhiên 10% để kiểm chứng lại hiện trạng rừng) cũng bị sai lệch so với thực tế. Vì lý do này, nên có 289,96ha RTN được ghi nhận trên dữ liệu kiểm kê, nhưng thực tế là rừng trồng.

Cũng theo lý giải cuả Sở NN&PTNT, sai lệch hiện trạng rừng tự nhiên toàn tỉnh như trên chiếm tỷ lệ 0,4%, nằm trong sai số cho phép của công tác kiểm kê rừng (theo Quyết định số 689/QĐ-TCLN-KL ngày 23-12-2013 của Tổng cục Lâm nghiệp về ban hành bộ tài liệu tập huấn hướng dẫn kỹ thuật điều tra, kiểm kê rừng thì: tỉ lệ sai số bình quân cho phép của kiểm kê rừng đối với chỉ tiêu tên trạng thái rừng là 2%).

Về hướng xử lý sau khi có kết quả kiểm kê rừng 2016, để tiến tới xây dựng bộ cơ sở dữ liệu ít sai khác nhất so với hiện trạng thực tế, từ năm 2017-2018, Sở NN-PTNT đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh tiến hành cập nhật hiện trạng rừng đúng thực tế vào phần mềm cập nhật diễn biến rừng. Kết quả biến động với những nguyên nhân cụ thể như trên đã được báo cáo Tổng cục Lâm nghiệp. Dữ liệu này đã được Tổng cục Lâm nghiệp công bố và đó cũng là thông tin báo chí nêu.

Sở này cũng đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm, các đơn vị chủ rừng tiếp tục rà soát hiện trạng rừng cũng như cập nhật các biến động bằng các phần mềm chuyên dụng để có kết quả chính xác, minh bạch nhất, cũng như phòng ngừa việc xâm lấn tài nguyên rừng gây mất rừng.

Minh Phương

Nhận xét