Với các địa phương sở hữu diện tích rừng lớn, thị trường carbon đang mở ra một hướng huy động tài chính mới cho công tác bảo vệ, phục hồi rừng và cải thiện đời sống người dân sống gần rừng. Tuy nhiên, để biến tiềm năng này thành nguồn lực ổn định, ngành lâm nghiệp cần hoàn thiện đồng bộ dữ liệu, hành lang pháp lý, cơ chế chia sẻ lợi ích và năng lực quản trị ở cả cấp trung ương lẫn địa phương.
Hành lang pháp lý cho lĩnh vực này đang dần được định hình. Nghị định 112/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ 19/5/2026) quy định về trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon, tạo cơ sở để Việt Nam công nhận, quản lý và chuyển giao kết quả giảm phát thải với đối tác nước ngoài. Tiếp đó, Nghị định 180/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ 15/7/2026) quy định cụ thể về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng, xác định rõ bên cung ứng, bên sử dụng dịch vụ và cách quản lý nguồn thu, qua đó gắn trách nhiệm bảo vệ rừng của chủ rừng và cộng đồng với lợi ích kinh tế cụ thể.
Lâm Đồng là một ví dụ điển hình. Theo ông Lê Thanh Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, sau sáp nhập địa giới, toàn tỉnh hiện có hơn 1,1 triệu ha rừng, trong đó gần 1 triệu ha là rừng tự nhiên. Tỉnh đang đồng thời tiếp cận thị trường carbon trong nước, phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện khung pháp lý, hệ thống đăng ký và tiêu chuẩn carbon rừng, và thị trường quốc tế khi là 1 trong 5 tỉnh tham gia Chương trình chi trả giảm phát thải vùng Nam Trung Bộ - Tây Nguyên với Liên minh LEAF/Emergent, dự kiến chuyển nhượng khoảng 5,15 triệu tấn CO2 giai đoạn 2021-2025 với mức giá đàm phán 10-15 USD/tấn, kỳ vọng nguồn thu 300-500 tỷ đồng. Dù vậy, chương trình vẫn đang trong giai đoạn đàm phán, hệ thống đo đạc - báo cáo - thẩm định (MRV) còn phụ thuộc nhiều vào hướng dẫn từ trung ương, và cơ chế chia sẻ lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng, cộng đồng vẫn cần được cụ thể hóa hơn.
Giới chuyên gia lưu ý tín chỉ carbon rừng không đơn giản chỉ đến từ việc "có rừng" mà phải chứng minh được mức giảm phát thải hoặc hấp thụ tăng thêm so với đường cơ sở, có hệ thống giám sát độc lập và không tính trùng. Theo GS.TS Trần Thị Thùy Dương, Trường Đại học Luật TP.HCM, tín chỉ carbon rừng ngày càng được xem là một loại tài sản kinh tế, nên việc phân chia lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng và cộng đồng cần minh bạch, công bằng hơn, cộng đồng địa phương không nên chỉ là bên "thực hiện nhiệm vụ" mà cần được nhìn nhận là chủ thể có quyền với giá trị carbon tạo ra. Bên cạnh đó, tính bền vững của tín chỉ còn đối mặt rủi ro "đảo ngược carbon" do thiên tai, cháy rừng, khai thác trái phép hay thay đổi mục đích sử dụng đất, trong khi khung pháp lý hiện chưa có quy định bắt buộc về thời gian duy trì carbon hay quỹ dự phòng rủi ro ở cấp quốc gia.
Các chuyên gia đề xuất cần sớm xây dựng quy định ràng buộc thời gian duy trì carbon theo từng loại rừng, nghiên cứu lập quỹ dự phòng carbon xanh quốc gia, đồng thời tích hợp yêu cầu bảo vệ trữ lượng carbon vào quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch lâm nghiệp. Khi được chuẩn bị bài bản, tín chỉ carbon rừng không chỉ là nguồn tài chính bổ sung mà còn có thể trở thành động lực lâu dài cho bảo vệ, phục hồi rừng và cải thiện sinh kế người dân.
Nguồn tham khảo: Báo Nhân Dân.
Xem thêm tại www.phuquyviet.com
Nhận xét
Đăng nhận xét