Chuyển đến nội dung chính

Giữ rừng... vì mục tiêu kép ở Điện Biên

 (TN&MT) - Đứng trên đỉnh Pha Đin, phóng tầm mắt hướng về Tuần Giáo (Điện Biên), ngọn núi Pu Huốt cao ngất “chứng nhân” ngàn đời cho hàng vạn cây rừng ngã xuống... thế vào đó là những giống cây lương thực ngắn ngày. Bây giờ Điện Biên đang là mùa khô, nhìn tổng thể đồi đã có màu xanh nhưng vẫn là “chiếc áo vá”... Nghĩa là, tỷ lệ người dân ở Điện Biên sống được nhờ rừng còn thấp. Song đồng bào hãy nhìn về góc nhìn thiên tai, bão lũ... Hãy giữ rừng để giữ ngôi nhà mình đang ở.

Nhiều thân gỗ to ở rừng Mường Nhé.

Chiều cuối năm rét ngọt, cả không gian tinh màu trắng đục, sương bay là là vắt ngang cổ núi. Dưới chân Pu Huốt hoa dã quỳ nở vàng mê mải, rực lên những bông hoa chuối như những ngọn lửa hồng thắp sáng đêm đông. Đồng nghiệp tôi đi cùng hóm hỉnh: Nhìn những loài hoa dại ấy bừng lên trong màn sương giá rét làm cho cảnh vật bớt đi sự nghèo nàn và tẻ nhạt... giống như việc tỷ lệ che phủ rừng của Điện Biên được nâng lên là nhờ chính sách DVMTR, làm sáng lên bức tranh tổng thể bảo vệ rừng ở nơi đây.

Tôi giãy nảy... Ai lại ví như thế!?

Chúng tôi nhìn nhau cười, mỗi người dượt đuổi theo một sự suy nghĩ của riêng mình. Nhưng rõ ràng đồng nghiệp tôi nói là có cơ sở. Song công bằng mà nói, Điện Biên bây giờ đồi cũng bớt trọc hơn 5 năm trước, một phần do tỷ lệ che phủ của rừng cao su, song cũng một phần nhờ ý thức người dân nâng lên thông qua những bài học về tai họa thiên tai và một số chương trình, chính sách của Nhà nước.  Đặc biệt là từ chính sách DVMTR...

Được biết, trong vài năm trở lại đây 11 huyện thị, thành phố của tỉnh Điện Biên người dân đều được hưởng chính sách từ dịch vụ chi trả môi trường rừng (DVMTR). Nghĩa là, các hộ dân và các cộng đồng thôn bản... có diện tích rừng khoanh nuôi bảo vệ sau 5 năm được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên xác nhận có rừng thì người dân sẽ được hưởng lợi từ chính sách ấy tùy theo lưu vực sông mà các thủy điện đóng máy. Trong các lưu vực sông Đà, sông Mã... và nhiều nhánh sông nhỏ khác thì lưu vực sông Đà hiện nay người dân đang được hưởng chính sách DVMTR với số tiền thủy điện ủy thác trả cho dân cao nhất, đơn giá bình quân từ 500.000đ/ha/năm. Và đến năm 2016 lưu vực sông Đà tăng lên đến 822.703 đồng/ha/năm.

Bà Đặng Thị Thu Hiền, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên, cho biết: Sở dĩ các hộ dân có diện tích rừng tại các lưu vực sông Đà được nhận tiền từ chính sách chi trả DVMTR cao do lưu vực sông này có 3 nhà máy thủy điện lớn, gồm: Thủy điện Lai Châu, thủy điện Sơn La, thủy điện Hòa Bình và nhà máy nước Vinaconex.

Cũng theo đơn vị này báo cáo, năm 2019, tỉnh Điện Biên đã thực hiện chi trả trên 200 tỷ đồng cho 2.551 chủ rừng phân bố trên địa bàn các huyện: Điện Biên, Điên Biên Đông, Tủa Chùa, Tuần Giáo, Mường Ảng, Nậm Pồ, Mường Nhé, Mường Chà và Mường Lay.

Chúng tôi theo chân đoàn cán bộ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên có mặt tại xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; để trả tiền bảo vệ rừng cho người dân từ chính sách chi trả DVMTR.

Già làng Lùng Quang Trung, trưởng nhóm nhận khoán bản Cây Muỗm, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, chia sẻ: Cộng đồng bản chúng tôi hợp đồng với Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng đã được 5 năm. Nhóm chúng tôi bầu ra Ban Quản lý rừng cộng đồng và đại diện cho các thành viên trong nhóm ký hợp đồng với BQL Khu Bảo tồn... Nói thật là không có rừng và chính sách DVMTR thì chắc là chúng tôi biết làm gì để ăn... Hàng tuần chúng tôi chia nhau ra đi tuần tra rừng, lập chốt gác cửa ra vào rừng, phòng cháy chữa cháy rừng... Công việc chỉ có thế thôi, sẽ không vất vả nếu mình bảo vệ rừng tốt... Còn tiền nhận được từ việc khoanh nuôi, bảo vệ rừng nhóm chia đều cho các hộ... ai vi phạm sẽ bị trừ ngày công và đưa ra khỏi nhóm hưởng lợi từ rừng. Nên mọi người trong nhóm ai cũng cố gắng làm tốt. Có tiền DVMTR nên con cái được đi học, nhà cửa được dựng mới.

Thân cây cổ thụ ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé

Được biết, chính sách chi trả DVMTR đã tác động nhiều mặt đối với môi trường rừng và cuộc sống của người dân, cả về kinh tế, xã hội và môi trường; là nguồn lực để phát triển rừng bền vững.

Trong đó về mục tiêu kinh tế, chính sách chi trả DVMTR góp phần tăng thu nhập cho các hộ gia đình, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, có nguồn thu nhập ổn định từ rừng. Về môi trường, chính sách chi trả DVMTR đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng, tăng tỷ lệ độ che phủ rừng, diện tích rừng được chi trả nâng lên, hạn chế tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép. Đặc biệt, trong công tác phòng, chống ứng phó biến đổi khí hậu và những bài học đắt giá về thiên tai bão lũ, điển hình lũ ống xảy ra tại T.X Mường Lay năm 1990.

Bà Đặng Thị Thu Hiền, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên cho biết: Chính sách chi trả DVMTR đã tạo thu nhập ổn định cho hơn 53.000 hộ dân tham gia bảo vệ rừng trên địa bàn, trong đó lưu vực sông Đà thu nhập trung bình đạt 3 triệu đồng/hộ/năm. Riêng với khu vực huyện Mường Nhé trung bình mỗi hộ dân có thu nhập gần 10 triệu đồng mỗi năm, cá biệt tại bản Tả Ló San, xã Sen Thượng, huyện Mường Nhé, mỗi hộ đạt trung bình trên 100 triệu đồng/hộ/năm.

Đó chỉ là một trong những xã, những huyện của tỉnh Điện Biên nằm trong lưu vực sông Đà được hưởng tiền bảo vệ rừng từ 3 nhà máy thủy điện lớn nhất cả nước. Còn những xã, những huyện còn lại của tỉnh Điện Biên thì tiền công bảo vệ rừng vẫn còn rất thấp. Tuy nhiên, điều đó cũng làm cải thiện đáng kể vào việc bảo vệ rừng của người dân.

Nếu năm 2016 tỷ lệ che phủ rừng của Điện Biên đạt 38,5% (theo báo cáo kết quả kiểm kê rừng giai đoạn 2014 – 2016) thì đến nay tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh Điện Biên đã nâng lên 42,25% (năm 2020) nhờ chính sách DVMTR. Đồng thời, đời sống của người dân tại vùng được hưởng chính sách này ngày càng được nâng lên và sống được nhờ rừng, theo đó tình trạng lũ ống, lũ quét... làm thiệt hại nhà cửa, tài sản của người dân cũng giảm đi. Đó là nhờ ý thức của đồng bào đã được nâng lên.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l