Chuyển đến nội dung chính

'Chất lượng rừng quan trọng hơn độ che phủ'

 Chúng ta vẫn chủ yếu trồng rừng bằng những cây như bạch đàn, keo, phần nhiều để khai thác, trong khi chúng lại khiến địa chất yếu đi rất nhiều.

Tôi sinh sống ở một tỉnh miền núi phía Bắc. Từ thực tế, có thể nhận ra rằng, dân số tăng lên và nhu cầu về nhà ở, cùng việc xây dựng hệ thống giao thông khiến đất núi, rừng, đồi bị khai thác. Nếu như vào khoảng những năm 1990, chỗ tôi ở được coi là vùng sâu, vùng xa, theo chương trình 135. Cả thôn chỉ có chưa đến 10 hộ gia đình, rừng cây rậm rạp đến tận nhà (nhiều gỗ quý và động vật hoang dã như khỉ, hươu, hổ, báo...), thì nay, bà con khai thác rất nhiều để làm nương, ngô, sắn, xả...

Do đó, tôi cho rằng, rừng ở nước ta không còn nhiều. Phía Bắc có tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên. Các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Yên Bái thực tế có số rừng nguyên sinh còn lại rất ít. Chúng ta đã và đang nhìn thấy sự việc đau lòng xảy ra ở Miền Trung mùa bão lũ, nhưng tương lai có thể sẽ xảy ra ở các tỉnh miền núi phía Bắc.

Ngay trong thôn tôi ở, có một số gia đìnhKhai bị taluy dương sạt đất tràn đổ nhà. Nhưng kinh nghiệm cùng với sự tư vấn tuyên truyền của các cấp dường như vẫn còn chưa sâu sát, nên có nơi người dân chưa tiếp cận được. Bà con nhiều nơi vẫn đào cắt đất, đồi làm nhà một cách tự phát, không có quy hoạch.

Theo Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường, độ che phủ rừng của Việt Nam chỉ đạt gần 42%, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Lào (58%) hay Campuchia (47%). Bên cạnh những nguyên nhân lịch sử, còn có trách nhiệm của công tác quản lý. Hiện diện tích rừng trồng của Việt Nam 4,3 triệu ha nhưng chủ yếu là keo, sinh khối nhanh nhưng độ bền vững, chống chịu thiên tai kém.

Thực tế, việc trồng rừng hiện nay ở một số nơi, nói là "phủ xanh" nhưng thực chất, mật độ cây cùng hệ thống cây chắc chắn không được như tự nhiên (từ cây gỗ to đến cây cỏ chằng chịt). Chúng ta vẫn chủ yếu trồng rừng bằng những cây như bạch đàn, keo, phần nhiều để khai thác, và khiến địa chất yếu đi rất nhiều. Trong khi đó, độ che phủ dù quan trọng, nhưng chất lượng rừng còn quan trọng hơn.

Bên cạnh đó, nhiều vi phạm về phá rừng đã được phát hiện, song đến nay chưa truy cứu trách nhiệm hình sự trường hợp nào, kể cả những vụ vi phạm nghiêm trọng. Điều này cũng góp phần khiến diện tích rừng ở Việt Nam bị thu hẹp đáng kể.

Van Ma

>> Ý kiến không nhất thiết trùng với quan điểm VnExpress.net. Gửi bài tại đây.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l