Chuyển đến nội dung chính

Bài 1: Vì sao ngành gỗ luôn thiếu nguyên liệu ?

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) dự kiến sẽ có hiệu lực vào tháng 8/2020. Để các cơ hội trong EVFTA thành hiện thực phụ thuộc rất nhiều vào doanh nghiệp, trong đó vấn đề đầu tiên đối với mọi ngành đều là nguồn gốc xuất xứ. Bài toán nguyên liệu đối với ngành gỗ chưa có lời giải dù Việt Nam là quốc gia có thế mạnh về lâm nghiệp.

Gỗ nguyên liệu:  "thừa mà thiếu"

Hiệp định EVFTA đã được Quốc hội thông qua hồi đầu tháng 6/2020 và dự kiến sẽ có hiệu lực trong tháng 8/2020. Trong EVFTA, ngành gỗ được cho là sẽ được hưởng lợi rất lớn và doanh nghiệp xuất khẩu gỗ của Việt Nam đang đứng trước "cánh cửa" vào thị trường EU rất rộng mở. Tuy nhiên, để bước qua được, doanh nghiệp xuất khẩu gỗ phải đáp ứng được đầy đủ hệ thống tiêu chuẩn khắt khe của EU nói chung và từng thành viên EU nói riêng. Trong đó, tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ gỗ nguyên liệu là bắt buộc.

bai 1 vi sao nganh go luon thieu nguyen lieu
Các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ luôn đối mặt với vấn đề thiếu gỗ nguyên liệu đạt chuẩn (có chứng chỉ FSC) 

Đáng nói là Việt Nam là quốc gia có thế mạnh về lâm nghiệp, nhưng các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ lại luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu đầu vào trong nước.

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) năm 2019 cho thấy, nguyên liệu gỗ trong nước đáp ứng được khoảng 75% nhu cầu sản xuất. Tuy nhiên, trong 75% đó tỷ lệ nguyên liệu gỗ đạt chất lượng cao không nhiều, mà phần lớn là chất lượng gỗ còn thấp do khai thác sớm, gỗ còn non. Bên cạnh đó, tỷ lệ gỗ nguyên liệu có nguồn gốc xuất xứ theo các tiêu chuẩn quốc tế là rất thấp.

Trong khi, để đáp ứng các tiêu chuẩn của EU, nguồn nguyên liệu gỗ đầu vào 100% phải có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Tức là phải có chứng nhận nguồn gốc xuất xứ gỗ - FSC. Chất lượng và độ tuổi của gỗ cũng đòi hỏi khắt khe. Nếu với thực trạng trồng rừng chỉ 4 – 5 năm khai thác thì chất lượng khó đảm bảo được các yêu cầu của EU.

Cấp chứng chỉ rừng – lời giải cho bài toán nguyên liệu gỗ

Để quản lý và phát triển rừng bền vững, gắn với việc khai thác gỗ nguyên liệu có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, trong thời gian qua, các địa phương đã tích cực triển khai, khuyến khích việc cấp chứng chỉ rừng (CCR) cho rừng trồng. Đây cũng được coi là lời giải cho bài toán gỗ nguyên liệu có chứng nhận FSC làm đầu vào cho các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ.

bai 1 vi sao nganh go luon thieu nguyen lieu
Thực hiện chứng chỉ rừng cho rừng sản xuất là lời giải cho "bài toán" nguồn gốc xuất xứ gỗ sang thị trường EU

Ông Lê Minh Hưng – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam - cho biết, CCR là một trong những biện pháp tốt, kích thích bằng lợi ích xuất khẩu cho các chủ rừng (là doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ/nhóm hộ gia đình). Khi đạt được chứng chỉ về quản lý rừng, chủ rừng không những bán được lâm sản ở mọi thị trường quốc tế và với giá cao hơn từ 15% - 20%, tùy theo cấp kính và chất lượng gỗ so với gỗ không có chứng chỉ. Bên cạnh đó, đây cũng là yếu tố tiên quyết để doanh nghiệp gỗ Việt Nam có nguồn nguyên liệu gỗ có chứng chỉ để chế biến, xuất khẩu ra nước ngoài. Hiện trong nước có rất nhiều công ty chế biến đã có chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm (CoC); tuy nhiên nguồn nguyên liệu gỗ có chứng chỉ (FM) để đưa vào chế biến sản phẩm gỗ còn thiếu mà các doanh nghiệp phải nhập khẩu từ các châu lục.

Tại Quảng Nam, đến cuối năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã có hơn 4.426ha diện tích rừng trồng sản xuất được cấp CCR với 3 mô hình được cấp chứng chỉ. “Nhìn chung, diện tích rừng trồng sản xuất đã được cấp chứng chỉ rừng trên địa bàn của tỉnh trong thời gian còn quá ít, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có; do vậy, trong thời gian đến cần phải tranh thủ các nguồn lực để tăng nhanh diện tích quản lý rừng bền vững tiến tới cấp chứng chỉ rừng trồng”, ông Hưng nói.

Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, Chi Cục kiểm lâm tỉnh cho biết, tổng diện tích rừng trên địa bàn hơn 300.000ha, trong đó, rừng tự nhiên là 211.373ha, rừng trồng gần 100.000ha. Hiện nay trên địa bàn có khoảng 8.000ha được cấp chứng chỉ rừng, trong đó hơn 3.000ha thuộc các công ty lâm nghiệp quản lý, 5.000ha là của các hộ gia đình, cá nhân.

Quảng Trị hiện là điểm sáng trong việc liên kết và thực hiện cấp CCR. Theo Sở NN&PTNT tỉnh, toàn tỉnh hiện có 22 chi hội nhóm có CCR được thành lập với 536 hội viên, tổng diện tích rừng trồng để CCR là hơn 23.400ha.

Trong gian đoạn 2014-2019, tại các chi hội thuộc Hội CCR Quảng Trị đã có một số đơn vị có thành viên khai thác rừng và bán gỗ có CCR FSC với diện tích 584,8ha, với khối lượng 58.528 tấn.

Ông Hoàng Đức Doanh - Chủ tịch Hội Các nhóm có CCR Quảng Trị - cho biết, mô hình cấp CCR cho nhóm hộ gia đình quy mô nhỏ được triển khai tại Quảng Trị là mô hình thành công đầu tiên của Việt Nam nên được nhiều đối tác quan tâm, hỗ trợ. Hội cũng được hỗ trợ nguồn kinh phí đánh giá cấp chứng chỉ FSC từ đối tác, doanh nghiệp, sự hỗ trợ kinh phí cho hoạt động đào tạo từ Dự án Phát triển nông thôn Bắc miền Trung (Tổng công ty Thương mại Quảng Trị). Ngoài ra, Hội đã kết nối thành công giữa người sản xuất trực tiếp với doanh nghiệp chế biến nên có đầu ra của sản phẩm ổn định, giá thành cao hơn giữa gỗ có chứng chỉ và gỗ không có chứng chỉ FSC đã khích lệ nhiều chủ rừng tham gia Hội, thực hiện quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC.

Theo bà Nguyễn Hồng Phương - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Quảng Trị, với định hướng của chiến lược lâm nghiệp quốc gia về phát triển rừng trồng kinh doanh gỗ lớn, thực hiện quản lý rừng bền vững, cấp các chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế cho sản phẩm gỗ rừng trồng và tiềm năng rừng trồng sản xuất của chủ rừng quy mô nhỏ trên địa bàn, tỉnh Quảng Trị đặt mục tiêu đến năm 2024, diện tích rừng được cấp chứng chỉ trên địa bàn phấn đấu đạt 4.500 - 5.000ha, góp phần vào chỉ tiêu phát triển lâm nghiệp của tỉnh, tăng thu nhập cho người trồng rừng và tự chủ về tài chính cho chủ rừng.

Bài 2: Doanh nghiệp "chung tay" để trồng rừng có chứng chỉ

Nguyễn Tuấn - Vũ Lê

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l